Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 181/2025/HS-PT

Ngày 26-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng.

Các Thẩm phán:

  1. Ông Nguyễn Thiện Tâm;
  2. Ông Nguyễn Văn Nam.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 175/2025/TLPT-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Trần Thị Thủy T; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2025/HS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Tây Ninh.

- Bị cáo có kháng cáo: Trần Thị Thủy T, sinh ngày 29-02-1980; tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh nay là ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N (đã chết) và bà Lê Thị T1 (đã chết); có chồng là Trần Văn S, sinh năm 1982 (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ từ ngày 23-5-2025 đến ngày 29-5-2025 áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; bị cáo tại ngoại có mặt.

(Trong vụ án còn có bị cáo Trần Diên T2, bị hại Đào Hữu A: Không có kháng cáo, kháng nghị; Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Đào Hữu A và bị cáo Trần Thị Thủy T có quan hệ tình cảm với nhau từ năm 2010. T biết ông Hữu A là Trưởng Ban trị sự Giáo hội P tại thành phố T, tỉnh Tây Ninh nay thuộc phường T, tỉnh Tây Ninh; là người có uy tín trong Giáo hội nên bàn bạc với em ruột là bị cáo Trần Diên T2 dàn dựng việc bắt ghen, quay phim ông Hữu A và T ở trong nhà nghỉ để uy hiếp tinh thần nhằm chiếm đoạt tiền của ông Hữu A. Sáng ngày 13-5-2025, T điện thoại rủ ông Hữu A đến nhà nghỉ để quan hệ tình dục thì được ông Hữu A đồng ý; đồng thời, T điện thoại thông báo cho T2 biết để chuẩn bị. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 13-5-2025, ông Hữu A đến nhà nghỉ M thuộc khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh nay là khu phố N, phường B, tỉnh Tây Ninh thuê phòng trọ số 23 rồi điện thoại cho T biết. Khi nhận được tin từ ông Hữu A, T báo cho T2 biết số phòng và tên nhà nghỉ mà T hẹn gặp ông Hữu A, T kêu T2 giả làm người giao hàng để chủ nhà nghỉ cho vào nhằm mục đích quay phim tạo chứng cứ bắt ghen. Đến 10 giờ 30 phút cùng ngày, T đến phòng 23 gặp ông Hữu A, khoảng 15 phút sau T2 đến gõ cửa phòng, T chủ động ra mở cửa phòng để T2 xông vào dùng điện thoại di động quay lại cảnh T và ông Hữu A ở trong phòng nghỉ, ông Hữu A bỏ ra xe đi về, T2 lưu giữ đoạn video đã quay trong máy điện thoại của T2. Sau đó, T và T2 điện thoại hẹn ông Hữu A đến quán C1 thuộc khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh nay là khu phố N, phường B, tỉnh Tây Ninh để nói chuyện. Tại đây, T2 yêu cầu ông Hữu A phải đưa cho T2 số tiền 150.000.000 đồng, thì T2 xóa đoạn video đã quay, nếu không sẽ đăng tải đoạn video lên mạng xã hội. Sợ bị ảnh hưởng danh dự, uy tín, ông Hữu A đồng ý đưa cho các bị cáo số tiền 150.000.000 đồng; do không đủ tiền nên ông Hữu A đưa trước số tiền 100.000.000 đồng, T2 phải xóa các đoạn video đã ghi trong phòng nghỉ. Sau khi nhận được tiền, T2 đưa cho T 50.000.000 đồng, T2 giữ phần còn lại nhưng khi kiểm tra chỉ có 32.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, T2 xóa các đoạn video ghi trong phòng nghỉ, nhưng do ông Hữu A chỉ đưa 82.000.000 đồng nên T2 phục hồi lại các đoạn video đã xóa. Đến ngày 20-5-2025, T2 tiếp tục nhắn tin cho ông Hữu A yêu cầu đưa số tiền còn lại theo thỏa thuận là 50.000.000 đồng và số tiền giao thiếu 18.000.000 đồng, tổng cộng 68.000.000 đồng, nếu ông Hữu A không giao đủ thì T2 sẽ phát tán các đoạn video. Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 23-5-2025, ông Hữu A gặp T2 tại quán C1 để giao tiền, ông Hữu A đề nghị mua lại điện thoại của T2 với số tiền 10.000.000 đồng, tổng cộng 78.000.000 đồng. T2 xóa danh bạ, hình ảnh, video trong điện thoại rồi giao điện thoại cho ông Hữu A, khi T2 đang nhận số tiền 72.350.000 đồng từ ông Hữu A thì bị Phòng C2 Công an tỉnh T bắt quả tang.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Số tiền 72.350.000 đồng là tiền do bị cáo T2 cưỡng đoạt được của ông Đào Hữu A và bị bắt quả tang. Ngày 30-5-2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã trả lại số tiền 72.350.000 đồng cho ông Đào Hữu A.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Đào Hữu A nhận bồi thường số tiền 50.000.000 đồng và có đơn bãi nại đối với T2 và T.

Qua xác minh, các bị cáo không có tài sản nên không tiến hành kê biên tài sản.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2025/HS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh, đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Trần Diên T2 và Trần Thị Thủy T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm a, d khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thị Thủy T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án và được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23-5-2025 đến ngày 29-5-2025.

Ngoài ra, bản án còn tuyên: Hình phạt tù đối với bị cáo Trần Diên T2; về biện pháp tư pháp; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26-8-2025, bị cáo Trần Thị Thủy T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo: Xin được hưởng án treo, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là mẹ đơn thân, trình độ học vấn thấp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không trình bày tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Đơn kháng cáo của bị cáo đảm bảo đúng hình thức và trong thời hạn theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm. Do đó, hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm là hợp pháp, đúng pháp luật.

[2] Xét hành vi của bị cáo, thấy rằng: Ngày 13-5-2025, bị cáo T giả vờ rủ ông A vào nhà nghỉ, bị cáo T2 đến nhà nghỉ dùng điện thoại di động để quay video

cảnh ông A và bị cáo T trong phòng nghỉ, nhằm uy hiếp tinh thần chiếm đoạt của ông A số tiền 150.000.000 đồng. Sợ bị ảnh hưởng danh dự, uy tín, ông A đồng ý đưa cho các bị cáo số tiền 150.000.000 đồng và các bị cáo đã nhận được số tiền 82.000.000 đồng; bị cáo T2 đã xóa các đoạn video ghi trong phòng nghỉ. Sau đó, bị cáo T2 phục hồi lại các đoạn video đã xóa, đến ngày 23-5-2025, bị cáo T2 tiếp tục đe doạ, buộc ông A giao số tiền 68.000.000 đồng, đồng thời ông A thỏa thuận mua lại chiếc điện thoại của T2 với số tiền 10.000.000 đồng, tổng cộng là 78.000.000 đồng. Khi bị cáo T2 đang nhận của ông A số tiền 72.350.000 đồng thì bị bắt quả tang. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thị Thủy T khai nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị cáo Trần Diên T2; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, quá trình thực hiện tội phạm các bị cáo có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ, cấu kết chặt chẽ, thống nhất cố ý cùng thực hiện hành vi dùng thủ đoạn nhằm uy hiếp tinh thần để chiếm đoạt tài sản của bị hại, Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Trần Diên T2, Trần Thị Thủy T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 170 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo, thấy rằng:

[3.1] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin bãi nại, bị cáo có hoàn cảnh gia đình đơn chiếc, khó khăn nên được áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[3.2] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội. Bị cáo T phạm tội với 02 tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm a, d khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự có mức hình phạt từ 03 năm đến 10 năm tù; bị cáo là người khởi xướng, lên kế hoạch, bàn bạc, tạo điều kiện để bị cáo T2 đe doạ, uy hiếp tinh thần nhằm mục đích cùng chiếm đoạt tài sản của bị hại. Do đó, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung; vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo T với mức án 03 năm tù là phù hợp, không nặng; đồng thời, không có căn cứ để áp dụng chế định án treo cho bị cáo như nội dung kháng cáo.

[3.3] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

[4] Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Thủy T.
    • - Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2025/HS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Tây Ninh.
  2. Căn cứ các điểm a, d khoản 2 Điều 170; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trần Thị Thủy T 03 (ba) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án và được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23-5-2025 đến ngày 29-5-2025.

  3. Án phí: Bị cáo Trần Thị Thủy T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 (TANDTC);
  • - VKSND T.TN;
  • - TAND Khu vực 10 – Tây Ninh;
  • - VKSND Khu vực 10 – Tây Ninh;
  • - P. THADS Khu vực 10 – Tây Ninh;
  • - Cơ quan Điều tra CA Tỉnh TN;
  • - Phòng TTKTNV và THA TATTN;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án HSPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Tòng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2025/HS-PT ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự (cưỡng đoạt tài sản)

  • Số bản án: 181/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cưỡng đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Thủy T- Tội Cưỡng đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger