Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 181/2025/HS-PT

Ngày 25 tháng 11 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nguyệt
  • Các Thẩm phán: Ông Mai Nam Tiến và bà Trần Thị Nga
  • Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Tú Anh -Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

  • Bà Bùi Thị Thanh Hiếu – Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm - Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá và điểm cầu thành phần - Trại tạm giam Công an tỉnh T xét xử phúc thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 241/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:246/2025/QĐXXPT-HS ngày 10 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo: Nguyễn Thị Lan H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2025/HSST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Thanh Hoá.

Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Thị Lan H - sinh năm 1986. Nơi cư trú: Số nhà F Q, phường H, tỉnh Thanh Hóa. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nữ. Căn cước công dân số: [...].Quốc tịch: Việt Nam.Nghề nghiệp:Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 12/12. Con ông Nguyễn Công H1 và bà Nguyễn Thị M. Chồng: Nguyễn Duy T(đã ly hôn). Bị cáo có 01 con sinh năm 2011. Tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/9/2024, chuyển tạm giam ngày 21/9/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Cáo trạng và Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 09/9/2024, tại trước số nhà A, đường L, phường Đ, thành phố T (này là số nhà A, đường L, phường H), tỉnh Thanh Hóa, Tổ công tác Công an tỉnh T tiến hành kiểm tra xe taxi Bắc Trung N, gắn biển kiểm soát 36A-408.59 do Đỗ Đức T1 điều khiển chở Phạm Thị Y ngồi ở hàng ghế sau. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện, thu giữ trong túi xách của Phạm Thị Y 02 túi nilon màu trắng, bên trong mỗi túi đều chứa chất bột mịn màu trắng. Phạm Thị Y khai nhận là ma tuý Ketamine. Tổ công tác tiến hành lập biên bản, thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Thị Y đầu thú, khai nhận vào ngày 08/9/2024 và ngày 09/9/2024, Y cùng Đặng Mỹ V, Nguyễn Thị Lan H, Nguyễn Hải L, Phạm Bá Đ và Đỗ Hoàng H2 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của H2 ở số nhà G T, phường Đ, thành phố T (nay là phường H), tỉnh Thanh Hóa nhưng chưa sử dụng hết ma túy Ketamine, nên Nguyễn Anh D đã đưa lại cho Y cất giấu, mục đích để sử dụng. Ngoài ra, Phạm Thị Y còn khai nhận trước đó vào ngày 06/9/2024, tại căn nhà 04 tầng tại phố C, phường Đ, thành phố T (nay là phường H), tỉnh Thanh Hóa, Y đã tham gia tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cùng Nguyễn Huy T2, Phạm Ngọc S. Nguồn gốc số ma tuý Ketamine là Y mua của Đặng Mỹ V vào ngày 05/9/2024.

Đặng Mỹ V, Nguyễn Thị Lan H, Nguyễn Hải L, Phạm Bá Đ, Nguyễn Anh D đầu thú khai nhận về hành vi cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với Phạm Thị Y tại số nhà G T, phường H, tỉnh Thanh Hóa. Đồng thời, Nguyễn Hải L còn khai nhận về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại P Khách sạn M số B T, phường Đ (này là phường H), tỉnh Thanh Hóa.

Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Hoàng H2 tại số nhà G T, phường Đ, thành phố T thu giữ: Tại phòng ngủ tầng hai: 01 loa màu nâu đen có ký hiệu chữ UBL; 01 đèn màu đen; 02 loa màu đen; 01 đầu khò màu đen, bạc, cam; 01 thẻ nhựa màu xanh có in chữ B1 và PHAM BA DAI; 01 chai nhựa nắp màu xanh, trắng có chữ FANTA đựng dung dịch màu vàng. Tại gầm cầu thang tầng một: 01 đĩa sứ màu trắng, hình tròn; 01 thẻ nhựa hình chữ nhật có chữ “VinID” một mặt của thẻ bị cào xước có bám dính chất bột màu trắng.

Tại Kết luận giám định số 3323/KL-KTHS ngày 12/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Chất bột mịn màu trắng đựng 02 túi zip nilon màu trắng thu giữ trong túi xách của Phạm Thị Y là ma túy, có tổng khối lượng 1,882g (một phẩy tám tám hai gam), loại: Ketamine.

Tại Kết luận giám định số 3446/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt thẻ nhựa hình chữ nhật màu xanh có chữ “VinID” là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng chất ma tuý; Không tìm thấy chất ma tuý, loại: MDA, MDMA, Ketamine, A, Methamphetamine trong mẫu chất lỏng màu vàng. Thể tích chất lỏng màu vàng là 650ml.

Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp tại căn nhà Lê Quang H3 mượn của anh Nguyễn Thanh T3 ở phố C, phường Đ, thành phố T thu giữ: 01 vỏ hộp xì gà bằng kim loại màu vàng, đen có dòng chữ HANOS, bên trong đựng 03 vỏ túi nilon màu trắng, trong mỗi vỏ túi đều bám dính chất tinh thể màu trắng.

Tại Kết luận giám định số 3415/KL-KTHS ngày 18/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Chất tinh thể màu trắng bám dính trong 03 vỏ túi nilon màu trắng có tổng khối lượng 0,004gam (không phẩy không không bốn gam) là ma túy, loại Methamphetamine.

Cơ quan điều tra tiến hành khám xét chỗ ở của Lê Quang H3 tại phố C, phường Đ, thành phố T thu giữ: 01 hộp nhựa màu trắng bên trong có 01 túi zip nilon màu trắng có viền màu đỏ, bám dính chất tinh thể; 01 thẻ hình chữ nhật bằng giấy bìa cứng màu hồng; 01 thẻ nhựa loại thẻ Visa hình chữ nhật màu trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng một mặt bị ám khói màu nâu; 01 ống hút bằng nhựa sọc trắng hồng, một đầu có gắn vật bằng nhựa màu trắng có hình đầu thìa; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng một mặt có bám dính chất màu trắng dạng tinh thể; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng một mặt có ám khói màu nâu; 02 bật lửa và 01 kéo bằng kim loại màu trắng.

Tại Kết luận giám định số 3445/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận về vật chứng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Lê Quang H3:

  • Chất tinh thể bám dính bên trong túi nilon màu trắng (loại túi zip), có viền màu đỏ đựng trong hộp nhựa màu trắng là ma túy, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng chất ma tuý bám dính.
  • Tìm thấy chất ma tuý, loại Ketamine bám dính trên thẻ hình chữ nhật bằng giấy bìa cứng màu hồng đựng trong hộp nhựa màu trắng. Không xác định được khối lượng chất ma tuý bám dính.
  • Tìm thấy chất ma tuý, loại Ketamine bám dính trên thẻ nhựa hình chữ nhật màu trắng, loại thẻ Visa đựng trong hộp nhựa màu trắng. Không xác định được khối lượng chất ma tuý bám dính.
  • Tìm thấy chất ma tuý, loại Ketamine bám dính trên tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, một mặt bị ám khói màu nâu đựng trong hộp nhựa màu trắng. Không xác định được khối lượng chất ma tuý bám dính.
  • Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine, Ketamine bám dính bên trong ống hút bằng nhựa có sọc trắng hồng, một đầu có gắn vật bằng nhựa màu trắng có hình đầu thìa đựng trong hộp nhựa màu trắng. Không xác định được khối lượng chất ma tuý bám dính.
  • Chất tinh thể màu trắng bám dính trên tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng là ma tuý, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng chất ma tuý bám dính.
  • Tìm thấy chất ma tuý, loại Ketamine bám dính trên tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng một mặt bị ám khói màu nâu. Không xác định được khối lượng chất ma tuý bám dính.

Ngày 10/9/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét địa điểm Phòng số 2106 Khách sạn M T, phường Đ,thành phố T, thu giữ: 01 bộ coóng thủy tinh hình tròn được cắm nỏ thủy tinh và cao su, một đầu được cắm ống hút màu trắng; 01 bật lửa khò màu vàng xám; 01chén uống nước bằng đá, màu xanh ngọc bên trong chứa các sợi bùi nhùi màu xám và có bám dính chất bột nhiều màu sắc; 01 cốc Inox có quai cầm, bên trong chứa chất bột màu vàng, nâu, trắng; 01 túi zip viền đỏ, kích thước khoảng 3,5x6cm, bên trong có chứa chất bám dính màu vàng.

Tại Kết luận giám định số 7042/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của V1 Bộ C1 kết luận về vật chứng thu giữ khi khám xét địa điểm Phòng số 2106 Khách sạn M4:

  • Mẫu chất lỏng trong B2 (bộ coóng) là dung dịch Cocaine. Thể tích chất lỏng: 0,5ml. Khối lượng Cocaine trong mẫu: 0,030gam.
  • Đều tìm thấy chất ma túy Cocaine trên chiếc bật lửa khò màu vàng xám; trong chén uống nước bằng đá chứa các sợi bùi nhùi; trong cốc Inox; trong túi zip nilon viền đỏ. Không xác định được khối lượng Cocaine mẫu vật do lượng Cocaine bám dính trên các mẫu vật gửi giám định quá ít.

Ngày 10/9/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Hải L tại P, Chung cư T, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội thu giữ: 01 túi nilon màu trắng chứa 02 vỉ nhựa màu đen chứa 73 viên đạn dài khoảng 02cm, có ký hiệu chữ “SB” và 02 viên đạn dài khoảng 02cm có ký hiệu chữ “C”; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất bột mịn màu trắng; 01 mảnh giấy chuyển phát nhanh có thông tin, số điện thoại người gửi là Nguyễn Tuấn K, người nhận là Nguyễn Hải L.

Tại Kết luận giám định số 3443/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận về vật chứng thu giữ khi khám xét nơi ở của Nguyễn Hải L: 75 viên đạn, đều là đạn thể thao cỡ 5,6x15,5mm không phải vũ khí quân dụng.

Tại Kết luận giám định số 7044/KL-KTHS ngày 30/10/2024 của V1 Bộ C1 kết luận về vật chứng thu giữ khi khám xét nơi ở của Nguyễn Hải L: Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu chất bột mịn màu trắng gửi giám định, khối lượng mẫu 852,45gam.

Tại Kết luận giám định số 7041/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của V1 Bộ C1 kết luận:

  • Tìm thấy chất 11-Nor-9-carboxy-THC (là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Delta-9-tetrahydrocanabinol/Cần sa trong cơ thể) trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Anh D.
  • Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine, Ketamine trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Thị Lan H và Đặng Mỹ V.
  • Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine, MDMA và Cocaine trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Hải L.
  • Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine và MDMA trong mẫu nước tiểu của Đỗ Hoàng H2.
  • Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine, MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu của Hoàng Thị H4.
  • Tìm thấy chất ma túy Ketamine và C trong mẫu nước tiểu của Phạm Bá Đ.
  • Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine, MDMA, Ketamine và 7-Aminonimetazepam (là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Nimetazepam trong cơ thể) trong mẫu nước tiểu của Phạm Thị Y, Lê Quang H3.

Tại Kết luận giám định số 7043/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của V1 Bộ C1, kết luận: Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu máu của Lê Quang H3.

Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của Phạm Thị Y và Đặng Mỹ V: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 05/9/2024, Phạm Thị Y nhắn tin cho Đặng Mỹ V hỏi mua 10 túi ma tuý nước vui và 01 uốn ma tuý Ketamine. Đặng Mỹ V báo giá 10 túi nước vui 23.000.000 đồng và 01 uốn Ketamine 20.000.000 đồng, Y xin nợ lại số tiền này và bảo V đóng ma tuý, gửi về cho Y. Khoảng 16 giờ cùng ngày, V mang ma túy để trong hộp giấy dán kín ghi thông tin người gửi, người nhận và số điện thoại ra bến xe N, Hà Nội gửi nhà xe V2 về Thanh Hóa cho Y. Nhà xe Vân Al nhắn tin báo cho Y có đơn hàng gửi về, Y đã liên hệ với Công ty vận chuyển hàng 136, thuê người đến nhận gói hàng từ nhà xe V2 mang đến phố C, phường Đ, thành phố T giao cho Nguyễn Huy T2. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T2 nhận được ma túy mang về căn nhà ở phố C, phường Đ (nhà do Lê Quang H3 mượn của anh Nguyễn Thanh T3 cho T2 ở), để vào ngăn kéo tủ đầu giường trong phòng ngủ. Đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, Y bảo T2 mở gói hàng và chia nhỏ ma túy Ketamine cho Y. T2 mở ra thì thấy bên trong có 10 túi nước vui và 01 túi nilon màu trắng đựng Ketamine rồi chia số Ketamine trên thành khoảng 10 túi zip nhỏ khác nhau để vào trong túi vải màu đen cất giấu trong ngăn kéo tủ đầu giường tại phòng ngủ của T2.

* Hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Thị Y, Nguyễn Huy T2, Phạm Ngọc S và hành vi Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Quang H3 tại phố C, phường H, tỉnh Thanh Hóa: Khoảng 23 giờ ngày 05/9/2024, Phạm Thị Y đến gặp Nguyễn Huy T2 và Phạm Ngọc S lấy ma túy để sử dụng. T2 đi xuống bếp lấy 01 chiếc bát sứ và 01 chiếc đĩa sứ, mang vào phòng ngủ tầng một, lấy 01 túi ma túy nước vui cho vào trong bát, pha với nước lọc và uống trước rồi để bát nước vui lên tủ lạnh cho Y và S sử dụng. Tiếp đó, T2 lấy ra 01 túi ma túy Ketamine đổ ra đĩa và lấy miếng giấy cứng để “kẻ” đường Ketamine, đồng thời cuộn tờ tiền 1.000 đồng bên ngoài ống hút nhựa để làm ống hít ma túy, T2 hít khoảng 3, 4 đường rồi để đĩa Ketamine lên bàn cho Y và S sử dụng. Khoảng 01 giờ ngày 06/9/2024, Y bảo S gọi thêm nhân viên nữ đến để sử dụng ma túy, Y sẽ cho S tiền trả cho nhân viên. Do S không có tài khoản ngân hàng, nên Y chuyển tiền vào tài khoản của T2 số tiền 10.000.000 đồng cho S. Sau đó, S đưa điện thoại cho T2 bảo gọi Nguyễn Thị Quỳnh A2 đến sử dụng ma túy. Quỳnh A2 đưa ra giá 7.000.000 đồng. T2 đồng ý và đi xe máy ra chỗ hẹn đón Quỳnh A2 về nhà cùng với S, T2, Y sử dụng ma túy. Đến khoảng 10 giờ ngày 06/9/2024, Quỳnh A2 đi về, S bảo Trung chuyển cho Quỳnh A2 10.000.000 đồng qua tài khoản ngân hàng. Sau đó, Quỳnh A2 và S đi về, còn Nguyễn Huy T2 và Phạm Thị Y nằm ngủ. Đến trưa cùng ngày Phạm Thị Y đi về. Khoảng 19 giờ ngày 06/9/2024, Phạm Thị Y quay lại chỗ Nguyễn Huy T2 để tiếp tục sử dụng ma túy. Cũng tại thời điểm này, tại tầng 02 nhà Lê Quang H3 ở phố C, phường H, tỉnh Thanh Hóa, H3 không thấy T2 về ăn cơm nên hỏi S thì S nói cho H3 biết T2 và Y đang sử dụng ma túy ở bên nhà mà H3 mượn của anh Nguyễn Thanh T3 cho T2 ở. Sau khi ăn cơm xong thì S xin H3 sang sử dụng ma túy cùng với T2 và Y, H3 đồng ý. Lúc này, S rủ thêm Nguyễn Văn B và Lê Bá A3 cùng đi nhưng H3 không đồng ý cho B đi. Sau đó, S chở Bá A3 đến để sử dụng ma túy cùng T2 và Y. Tại phòng ngủ tầng một, T2 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy để lên giường, rồi lấy 03 gói ma túy nước vui và 02 túi Ketamine từ trong ngăn kéo tủ đầu giường ra, rồi pha ma túy nước vui vào trong bát cùng với nước ngọt F, còn ma túy Ketamine T4 đổ ra đĩa, dùng miếng giấy cứng chia đường Ketamine để T4, S, Y cùng sử dụng, riêng Bá A3 không sử dụng. Trong lúc sử dụng ma túy thì Y có nói với T4 đưa cho S 01 túi nước vui và 01 chỉ Ketamine. T4 lấy từ trong ngăn tủ đầu giường 01 túi nước vui và 01 túi Ketamine đưa cho S. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, H3 gọi điện cho S hỏi có những ai chơi ma túy. S nói cho H3 biết có S, T4, Y, Bá A3 thì H3 bảo S và Bá A3 về đi ngủ. S xin H3 ở lại sử dụng ma túy thêm một lúc nữa rồi về, Bá A3 đi về trước. Sau đó T4, Y, S tiếp tục sử dụng ma túy đến khoảng 00 giờ ngày 07/9/2024 thì S đi về nhà H3 ngủ.

Hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Thị Y, Đặng Mỹ V, Đỗ Hoàng H2, Nguyễn Hải L, Nguyễn Thị Lan H, Nguyễn Anh D, Phạm Ngọc S, Nguyễn Huy T2 tại số nhà G T, phường H, tỉnh Thanh Hóa:Trước đó, Phạm Thị Y rủ Đặng Mỹ V vào Thanh Hóa chơi nên ngày 07/9/2024, V rủ Nguyễn Anh D đi cùng. Khoảng 01 giờ cùng ngày, D lái xe ôtô, BKS 30G - 991.93 chở V đi từ Hà Nội vào Thanh Hóa. Trên đường đi, V gọi điện, nhắn tin báo cho Y biết là V đang đi vào Thanh Hóa. Đến khoảng 03 giờ, V, D đi đến thành phố T, V gọi điện Y đón. Lúc này, Y đang ở chỗ của Nguyễn Huy T2, Y lấy 01 gói ma túy Ketamine từ trong ngăn kéo tủ đầu giường, rồi bắt xe taxi đi đến gặp V và D. Sau đó, Y đi xe ô tô cùng V và D về khách sạn M5, thành phố T thuê phòng nghỉ. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, V và Y đến nhà Đỗ Hoàng H2 tại 0 K, phường Đ, thành phố T (nay là 0 K, phường H), tỉnh Thanh Hóa. Sau đó, H2, V, Y và Phạm Bá Đ cùng đi chơi. Khoảng 17 giờ cùng ngày, cả nhóm quay về khách sạn M5 đón Nguyễn Anh D đi về số nhà D K, phường H. Trên đường đi Y nói với V tối nay anh em tập trung sử dụng ma túy thì V nói với Y cho V mượn một ít Ketamine nên Y đưa cho V túi Ketamine mà Y mang theo trước đó. Sau khi đi về đến số D K, Y một mình đi đến chỗ Nguyễn Huy T2, còn H2 chở V, D đi đến số nhà G T, phường H. Khoảng 23 giờ cùng ngày, H2 gọi điện cho Nguyễn Thị Lan H đến 71 Trịnh Khả chơi. V nhắn tin cho Y bảo mang cho V 01 gói nước vui và rủ Y đến số nhà G T để sử dụng ma túy. Sau đó, V lấy một chiếc đĩa sứ hình tròn, màu trắng từ bếp và mang theo túi ma túy Ketamine mà Y đã đưa cho V trước đó lên phòng ngủ phía trước tầng 02, đổ túi ma túy Ketamine ra đĩa sứ và lấy tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng của V cuộn thành ống hút, rồi hít ma túy Ketamine trong đĩa. V để đĩa Ketamine xuống đệm dưới sàn nhà và Nguyễn Thị Lan H lấy sử dụng. Lúc này, H2 hỏi H ở nhà có đèn chiếu không, H trả lời có, H2 bảo H về nhà lấy đèn chiếu. H biết mục đích H2 bảo lấy đèn chiếu để phục vụ việc sử dụng ma túy. H bắt xe taxi đi về nhà lấy 01 chiếc đèn chiếu mang đến nhà H2. Sau đó, H2 bật loa, đèn chiếu để mọi người sử dụng ma túy.

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 08/9/2025, Phạm Thị Y rủ Nguyễn Huy T2 mang ma túy đi đến nhà Đỗ Hoàng H2 cùng sử dụng. T2 lấy số ma túy nước vui và Ketamine còn lại từ trong ngăn tủ đầu giường ra đưa cho Phạm Thị Y cất vào trong túi xách. Ngoài ra, T2 còn lấy thêm chai nước Fanta từ trong tủ lạnh bỏ vào trong túi xách của Y, mục đích để pha cùng với ma túy nước vui. Sau đó, Y và T2 bắt xe taxi đi đến số nhà G T Khi đến, Y gọi V mở cửa, T2 cầm theo túi xách đựng ma túy và chai nước Fanta, rồi cùng Y đi vào nhà H2. Sau khi vào nhà, T2 và Y đi lên phòng ngủ phía trước tầng 02. Lúc này trong phòng có H2, V, Lan H và D đang ngồi sử dụng ma túy Ketamine. T2 đưa lại túi xách đựng ma túy và chai nước Fanta cho Y để ra đệm dưới sàn nhà chỗ mọi người đang ngồi. H2 đổ ma túy nước vui vào trong vỏ chai nước khoáng L1, rồi lấy chai nước ngọt F đổ vào và đưa cho T2 cầm, lắc chai nước vui hòa tan cho mọi người sử dụng. D lấy ma túy Ketamine đổ ra đĩa và dùng thẻ kẻ đường Ketamine mời H2, V, Lan H, Y sử dụng. Do thấy đông người nên Y gọi điện thoại cho Phạm Ngọc S bảo S mang 01 gói ma túy nước vui và 01 túi Ketamine mà Y cho S trước đó đến nhà H2 để sử dụng. Khoảng 05 giờ, ngày 08/9/2024, S mang 01 gói ma túy nước vui và 01 túi Ketamine đưa cho Y để ra đệm cho mọi người sử dụng.

Khoảng 11 giờ ngày 08/9/2025, Đặng Mỹ V đưa số điện thoại của Nguyễn Hải L cho Nguyễn Anh D và bảo D đi đón L về nhà Đỗ Hoàng H2 tại G T Khoảng 12 giờ cùng ngày, L về đến nhà H2, V đưa cho L 01 túi ma túy Cocaine. L lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy Cocain mà L mang theo, rồi cho C vào trong tẩu và bật lửa đốt để hút. Sau đó, L bật lửa đốt C cho H2, V, Lan H, D sử dụng. Lúc này, Nguyễn Thị Lan H gọi điện cho Hoàng Thị H4 rủ đến nhà Đỗ Hoàng H2 sử dụng ma túy, H4 đồng ý và bắt xe taxi đến nhà H2. H2 bảo Hoàng Thị H4 đi lại ngồi cùng Nguyễn Hải L. Sau đó, D đưa ma túy nước vui mời Hoàng Thị H4 sử dụng. Tiếp đó, Nguyễn Hải L châm lửa đốt ma túy Cocaine mời Hoàng Thị H4 sử dụng. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Nguyễn Hải L chở Hoàng Thị H4 đi chơi. Khoảng 21 giờ cùng ngày thì L và Hoàng Thị H4 quay lại nhà H2, lúc này mọi người vẫn đang tiếp tục sử dụng ma túy.

Hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Hải L, Đặng Mỹ V, Phạm Bá Đ tại Phòng số 2106 khách sạn M4: Khoảng 23 giờ ngày 08/9/2024, do thấy mọi người đã sử dụng hết ma túy Cocaine nên Đặng Mỹ V liên lạc để mua. Lúc này Phạm Bá Đ đang ngồi cạnh V tại nhà Đỗ Hoàng H2. V đọc số điện thoại 0972.416.xxx bảo Đ đi ra Hà Nội liên lạc với số điện thoại trên để lấy ma túy Cocaine mang về Thanh Hóa cho mọi người sử dụng. Đ điều khiển xe ôtô, BKS 30G - 991.93 của V ra Thành phố Hà Nội để lấy ma túy Cocaine. Đến khoảng 04 giờ ngày 09/9/2025, Đ về đến nhà H2 thì gặp Nguyễn Hải L, Đ đưa gói C cho L cầm kiểm tra, sau đó L đưa lại túi C cho Đ cất giấu tại gần cầu thang. Sau khi đi ăn sáng về, Đ lấy túi Cocaine đưa lại cho L. Khoảng 13 giờ ngày 09/9/2024, L mang theo túi Cocaine Đ đưa và bộ dụng cụ sử dụng C đi cùng Hoàng Thị H4 đến Khách sạn M4 thuê Phòng số 2106. Sau đó, L đến nhà H2 đón V đến Khách sạn M4. Sau khi vào phòng L lấy C ra, pha thêm nước rồi cho vào cốc I, dùng bật lửa đốt hơ nóng để cô đặc rồi cho C vào tẩu đốt để L hút và tiếp tục đốt C đưa cho V sử dụng. V gọi điện bảo H2 đến khách sạn M4 đón V. H2 bảo Đ chở đến Khách sạn M4 thì V xuống đón và đưa H2, Đ đi lên Phòng số 2106. Tại đây, L tiếp tục đốt C cho H2, Đ, V sử dụng.

Về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của Phạm Thị Y và Nguyễn Anh D:Trước đó, khoảng 08 giờ ngày 09/9/2024, Nguyễn Anh D tại số nhà G T, phường H thấy Đỗ Hoàng H2 cất giấu 01 bọc túi vải màu đen dưới chậu hoa phía sau nhà. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Đặng Mỹ V nhắn tin hỏi D có biết H2 cất Ketamine ở đâu không. D trả lời có thấy, V bảo D cầm ma tuý Ketamine sang nhà số D K cho V. D đi ra lấy bọc túi vải màu đen mà H2 cất dưới chậu hoa, kiểm tra thì thấy bên trong có 02 túi zip màu trắng đựng Ketamine. D vứt túi vải đi rồi bỏ 02 túi ketamine vào túi quần mang đến cho V.

Khoảng 18 giờ ngày 09/9/2024, Phạm Thị Y nhắn tin cho Đặng Mỹ V bảo V để số Ketamin còn lại chưa sử dụng hết tại số nhà G T và kiếm cho Y một ít ma túy kẹo (thuốc lắc) hay nước vui để Y sử dụng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Đỗ Hoàng H2, Đặng Mỹ V và Phạm Bá Đ đi từ Khách sạn M4 về nhà H2 tại 0 K. Tại đây, V đưa cho Nguyễn Anh D 02 túi Ketamine và bảo D mang cho Y, nhưng do trời mưa nên D bảo Y đến lấy. Y bắt xe taxi, BKS 36A-408.59 đi đến lấy ma túy. Khi Y đến nơi, D đi ra xe taxi đưa ma túy cho Y. Phạm Thị Y bỏ 02 túi ma túy Ketamine vào trong túi xách rồi bảo lái xe taxi đi, khi xe đi đến trước số nhà A, đường L, phường Đ, thành phố T, thì Y bị lực lượng Công an dừng xe kiểm tra, phát hiện.

Về nguồn gốc số ma túy Ketamine và ma túy nước vui của Đặng Mỹ V đã bán cho Phạm Thị Y ngày 05/9/2024, V khai nhận: Sáng ngày 05/9/2024, sau khi Y đặt mua ma túy, V gọi điện liên hệ với một người nam giới tên D1 đặt mua 10 túi nước vui và 01 uốn ma tuý Ketamine. D1 báo giá 30.000.000 đồng, D1 hẹn V đi ra khu vực bờ đê N gần sông H thuộc quận H, Thành phố Hà Nội để lấy ma túy. Khi đến địa điểm hẹn, V gọi điện cho D1 thì D1 hướng dẫn đi đến đoạn đường vắng gặp D1 nhận 01 túi nilon màu đen, V mở ra kiểm tra thì thấy trong túi nilon có 10 gói nước vui, 01 túi Ketamine và 01 gói nhỏ ma túy C (D1 đưa để V dùng thử). V thanh toán tiền mặt cho D1 và mang túi ma túy về nhà đóng gói nước vui, Ketamine gửi cho Y, túi ma túy Cocain Vân cất giấu trong túi xách đến ngày 07/9/2024, V mang theo vào Thanh Hóa.

Về nguồn gốc số ma túy Cocaine các đối tượng sử dụng tại Khách sạn M4, theo Đặng Mỹ V khai nhận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 09/9/2024, V gọi điện cho người nam giới tên D1 ở Hà Nội mà V mua ma túy trước đó, hỏi mua 02 gam ma túy Cocaine. D1 bảo V lấy ít nên D1 cho không lấy tiền. D1 đọc cho V số điện thoại 0972.416.xxx và bảo V liên hệ để lấy ma túy Cocaine. Sau đó, V bảo Phạm Bá Đ ra Hà Nội để lấy ma túy. Quá trình điều tra Đ khai nhận, trên đường đi ra Hà Nội, Đ gọi điện vào số điện thoại mà V đưa, thì thấy một người nữ giới nghe máy và hẹn Đ đi ra đầu ngõ A N, huyện G, Thành phố Hà Nội để lấy ma túy Cocaine. Khi đi đến địa điểm hẹn, Đ gọi điện thoại bảo mang ma túy ra, thì có một người nữ giới đi bộ ra đưa cho Đ một hộp xốp nhỏ, Đ kiểm tra thấy có 01 túi nilon màu trắng chứa ma túy Cocaine, Đ mang về Thanh Hóa.

Đối với 0,004 gam ma túy loại Methamphetamine thu giữ khi khám xét tại nhà thuộc phố C (nhà Lê Quang H3 mượn của Nguyễn Thanh T3). Quá trình điều tra xác định là số ma túy còn lại trong các vỏ túi nilon do Nguyễn Huy T2 sử dụng. T2 không nhớ được số ma túy trên T2 mua của ai, ở đâu. Do đó, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để làm rõ về nguồn gốc số ma túy này. Ngày 06/6/2025, Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T2.

Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” vào ngày 05/9/2024 của Lê Quang H3, tại nhà ở phố C phường H, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 06/6/2025, Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh T đã xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với 75 viên đạn thu giữ khi khám xét chỗ ở của Nguyễn Hải L, là đạn thể thao, L khai nhận do L nhặt được vào đầu năm 2024. Bản thân L chưa sử dụng số đạn trên. Công an tỉnh T đã đề nghị UBND tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính đối L về hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí thể thao".

Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của Hoàng Thị H4 tại số G T, phường Đ, thành phố T vào ngày 08/9/2024, Công an tỉnh T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với Nguyễn Thị Quỳnh A2, sinh 2001; Nguyễn Văn B, sinh năm 1999; Lê Bá A3, sinh năm 2003; Bùi Thị D2, sinh năm 1975; Phạm Văn M1, sinh năm 2006 và Phạm Ngọc M2, sinh năm 2004. Quá trình điều tra xác định những người trên không tham gia thực hiện hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đối với nam giới tên D1 theo Đặng Mỹ V khai nhận đã bán ma túy cho V, V không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể của D1. Sau khi liên lạc mua được ma túy thì V đã xóa tài khoản Telegram của D1. Đối với số điện thoại 0972.416.xxx, quá trình điều tra xác định người đứng tên đăng ký thuê bao là chị Nguyễn Thị Quỳnh A2, sinh năm 2003, trú tại: A, A, phường Y, quận T, Thành phố Hà Nội (nay là phường H, Thành phố Hà Nội). Xác minh tại Công an phường Y, Nguyễn Thị Quỳnh A2 đã chuyển đến chợ H5, ngõ B Â, phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội (nay là phường H, Thành phố Hà Nội). Tuy nhiên, xác minh tại Công an phường Q, xác định không có người nào là Nguyễn Thị Quỳnh A2 sinh sống tại đây. Phạm Bá Đ khi nhận ma túy C không nhìn rõ và không nhớ được đặc điểm của người này. Do đó, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để làm rõ, xử lý đối với người nam giới tên D1 đã bán ma túy cho Đặng Mỹ V và người phụ nữ đã giao ma túy cho Đ.

Đối với Đỗ Hoàng H2: Căn cứ vào Kết luận giám định pháp y tâm thần số 16/KLGĐ ngày 21/01/2025, V3, kết luận: Hiện nay, Đỗ Hoàng H2 mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh Tâm thần phân liệt thể Paranoid của H2 ở giai đoạn cấp tính. Do đó, ngày 20/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Đỗ Hoàng H2. Hiện nay, quá trình chữa bệnh bắt buộc của Đỗ Hoàng H2 chưa kết thúc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã ra Quyết định tách vụ án số 3621/QĐ-CSMT ngày 04/4/2025 đối với Đỗ Hoàng H2.

Về thu giữ, tạm giữ, xử lý đồ vật, tài liệu:

  • Thu giữ của Phạm Thị Y: 01 chiếc loa nghe nhạc màu kem có chữ “Mar Shall” (BL KXKC), xác định là công cụ Y sử dụng để phục vụ việc tổ chức sử dụng trái phép ma túy; 01 điện thoại IPHONE 15 Promax màu xám, có gắn sim và 01 điện thoại IPHONE 13 Promax màu xanh, có gắn sim. Quá trình điều tra xác định là Y sử dụng điện thoại IPHONE 15 để liên lạc mua bán ma túy và trao đổi việc tổ chức sử dụng trái phép ma túy.
  • Thu giữ của Đặng Mỹ V: 01 điện thoại IPHONE màu ghi bạc, có gắn sim, xác định V sử dụng liên lạc mua bán ma túy và trao đổi việc tổ chức sử dụng trái phép ma túy.

Đối với chiếc xe, BKS 30G-99193: Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu đứng tên đăng ký chiếc xe ôtô trên là chị Đặng Thị Hồng N1, sinh năm 1998, trú tại A ngách F N, phường Đ, quận L, Thành phố Hà Nội. Ngày 01/9/2024, Đặng Mỹ V mượn ô tô của chị N1 để đi công việc, chị N1 không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của Đặng Mỹ V. Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Đặng Thị Hồng N1.

  • Thu giữ của Nguyễn Thị Lan H: 01 điện thoại IPHONE 14 Promax, màu tím, có gắn sim, xác định Lan H sử dụng để trao đổi việc tổ chức sử dụng trái phép ma túy.

Đối với chiếc xe ôtô nhãn hiệu MAZDA 3, màu trắng, BKS 36A-490.55. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu đứng tên đăng ký chiếc xe ô tô trên là chị Nguyễn Thị Ngọc M3, sinh năm 1983, trú tại 4 M, phường H, tỉnh Thanh Hóa. Chiều ngày 09/9/2024, Nguyễn Thị Lan H (em gái M3) có đến nhà M3 mượn xe ô tô để đưa đón con đi học. M3 không biết và không liên quan gì đến hành vi phạm tội của H. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị Ngọc M3.

  • Thu giữ của Phạm Bá Đ: 01 điện thoại IPHONE 15 Promax, màu xám, có gắn sim, xác định Đ đã sử dụng liên lạc lấy ma túy để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Thu giữ của Nguyễn Anh D: 01 điện thoại IPHONE XS màu vàng, có gắn sim, xác định D đã sử dụng liên lạc để giao ma túy cho Phạm Thị Y.
  • Thu giữ của Nguyễn Hải L: 01 điện thoại IPHONE 12 Promax màu vàng gold; 01 điện thoại VERTU màu đỏ trắng; 01 điện thoại Nokia màu đen, cháy màn hình, xác định L không sử dụng các điện thoại trên để thực hiện hành vi phạm tội.

01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA COROLLA CROSS, màu đỏ, BKS 30H-111.45. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu đứng tên đăng ký chiếc xe ôtô trên là chị An Minh N2, sinh năm: 1981, trú tại D Quán T, phường H, Thành phố Hà Nội. Vào sáng ngày 03/9/2024 chị N2 cho Nguyễn Hải L mượn chiếc xe ô tô trên đi công việc. Chị N2 không biết và không liên quan gì đến hành vi phạm tội của Nguyễn Hải L. Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị An Minh N2.

  • Tạm giữ của Đỗ Đức T1: 01 xe ôtô taxi, nhãn hiệu NISSAN SUNNY, BKS 36A-408.59. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu đứng tên đăng ký chiếc xe ôtô trên là Đỗ Đức T1. Anh T1 sử dụng chiếc xe ôtô trên để chạy xe dịch vụ taxi. Ngày 09/9/2024 anh T1 nhận chở Phạm Thị Y để lấy tiền cước xe. Đỗ Đức T1 không biết việc, không liên quan đến hành vi phạm tội của Phạm Thị Y. Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đỗ Đức T1.
  • Thu giữ của Đỗ Hoàng H2: 01 điện thoại IPHONE màu bạc đã qua sử dụng; 01 xe ôtô nhãn hiệu LANDROVER, màu xanh, BKS 30E-297.56. Cơ quan điều tra tách đồ vật, tài liệu trên cùng vụ án Đỗ Hoàng H2 “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại số nhà G T, phường H, tỉnh Thanh Hóa (Quyết định số 3621/QĐ-CSMT ngày 04/4/2025) để xử lý theo quy định.

Số vật chứng thu được còn lại gồm: Chất ma tuý và vỏ bao gói còn lại sau giám định, dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; 09 chiếc điện thoại thu giữ của các bị cáo chuyển đến Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định.

Bản án hình sự sơ thẩm số 47 /2025/HSST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Thanh Hoá đã quyết định:

Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 251; Điều 17; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Đặng Mỹ V.

Điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm g khoản 1 Điều 249; Điều 17; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Phạm Thị Y.

Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm g khoản 1 Điều 249; Điều 17; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Anh D.

Điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Hải L. Nguyễn Huy T2.

Điểm a, b, h khoản 2 Điều 255; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Phạm Ngọc S.

Điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Phạm Bá Đ, Nguyễn Thị Lan H.

Điểm d khoản 2 Điều 256; khoản 1 Điều 47; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Lê Quang H3.

Khoản 2, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên bố:

  • Bị cáo Đặng Mỹ V phạm 02 tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Bị cáo Phạm Thị Y và Nguyễn Anh D phạm 02 tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Bị cáo Nguyễn Hải L, Nguyễn Huy T2, Phạm Ngọc S, Phạm Bá Đ và Nguyễn Thị Lan H phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
  • Bị cáo Lê Quang H3 phạm tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy".

* Xử phạt:

  • Bị cáo Đặng Mỹ V 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2024.
  • Bị cáo Phạm Thị Y 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2024.
  • Bị cáo Nguyễn Anh D 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2024.
  • Bị cáo Phạm Ngọc S 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/10/2024.
  • Bị cáo Nguyễn Hải L 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2024.
  • Bị cáo Nguyễn Huy T2 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/10/2024.
  • Bị cáo Phạm Bá Đ 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2024.
  • Bị cáo Nguyễn Thị Lan H 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2024.
  • Bị cáo Lê Quang H3 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2024.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/9/2025 Toà án nhân dân khu vực 1- Thanh Hoá nhận đượcđơn kháng cáo của bị cáoNguyễn Thị Lan Hương đối với bản án hình sự sơ thẩm số 47/2025/HSST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Thanh Hoá. Nội dung bị cáo kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Lan H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và Tại Toà án cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm các tình tiết giảm nhẹ TNHS mới: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn vợ chồng bị cáo ly hôn, bị cáo nuôi con nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình, quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành tốt các chủ trương chính sách, quy định của chính quyền địa phương nơi cư trú đề ra ( Có xác nhận của chính quyền địa phương), bị cáo tích cực ủng hộ trẻ em nghèo làng trẻ SOS, bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự, Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới theo khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo về giảm hình phạt, sửa Bản án sơ thẩm về hình phạt đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo từ 10 tháng đến 12 tháng tù.

Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí HSPT.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo hợp lệ đúng thời hạn theo quy định tại các Điều 331,332,333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được chấp nhận để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[3]. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Vào ngày 08/9/2024 Phạm Thị Y cùng Đặng Mỹ V, Nguyễn Thị Lan H, Nguyễn Hải L, Phạm Bá Đ và Đỗ Hoàng H2 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của H2 ở số nhà G T, phường Đ, thành phố T (nay là phường H), tỉnh Thanh Hóa. Nguyễn Thị Lan H có hành vi cung cấp dụng cụ đèn chiếu để phục vụ việc tổ chức sử dụng ma túy tại số nhà G T theo yêu cầu của Đỗ Hoàng H2, trực tiếp liên hệ gọi Hoàng Thị H4 đến nhà H2 để sử dụng ma túy.

Bị cáo Nguyễn Thị Lan H nhận thức được việc “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Khi phạm tội bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi cung cấp dụng cụ đèn chiếu để phục vụ việc tổ chức sử dụng ma túy tại số nhà G T theo yêu cầu của Đỗ Hoàng H2, trực tiếp liên hệ gọi Hoàng Thị H4 đến nhà H2 để sử dụng ma túy của Nguyễn Thị Lan H đã đồng phạm với vai trò giúp sức cùng các bị cáo khác trong việc Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Lan H đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử tuyên bố Nguyễn Thị Lan H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng quy định pháp luật.

[4]. Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt:

Nguyễn Thị Lan H có hành vi cung cấp dụng cụ đèn chiếu để phục vụ việc tổ chức sử dụng ma túy tại số nhà G T theo yêu cầu của Đỗ Hoàng H2, trực tiếp liên hệ gọi Hoàng Thị H4 đến nhà H2 để sử dụng ma túy.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm an ninh trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhân dẫn tới làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Vì vậy, cần có đường lối xử lý nghiêm khắc đối với các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt Toà án sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là thành khẩn khai báo, bị cáo đầu thú. bị cáo đã có tinh thần ủng hộ quỹ nhân đạo, có bố tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học Căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự,nên Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 08 (T5) năm tù là phù hợp.

Tại Toà án cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm các tình tiết giảm nhẹ TNHS mới: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn vợ chồng bị cáo ly hôn, bị cáo nuôi con nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình, quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành tốt các chủ trương chính sách, quy định của chính quyền địa phương nơi cư trú đề ra( Có xác nhận của chính quyền địa phương), bị cáo tích cực ủng hộ trẻ em nghèo làng trẻ SOS, bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự, đây là các tình tiết giảm nhẹ mới theo khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy nhân thân bị cáo chưa tiền án, tiền sự, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong vụ án bị cáo giữ vai trò giúp sức, do đó kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là có căn cứ, tại phiên toà phúc thẩm đại diện viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo về giảm hình phạt, sửa Bản án sơ thẩm về hình phạt đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo từ 10 tháng đến 12 tháng tù tháng là có căn cứ .

[5] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí HSPT.

[6]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Lan H

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 47/2025/HSST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Thanh Hoá

Căn cứ Điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự .

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Lan H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Lan H 07 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/9/2024.

Án phí HSPT: Bị cáo Nguyễn Thị Lan H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao tại Hà Nội;
  • - VKSND Tối cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (p7);
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thanh Hoá;
  • - TAND khu vực 1
  • - Công an phường Hạc Thành;
  • - Phòng THADS khu vực 1;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2025/HS-PT ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 181/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger