Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2025/HS-PT

Ngày 25-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương

Các Thẩm phán:

Ông Dương Tuấn Vinh

Bà Nguyễn Thị Cúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Trong các ngày từ ngày 19 tháng 3 năm 2025 đến ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 1168/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Trúc L.

Do có kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của bị hại Nguyễn Huy H đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 53/2024/HS-ST ngày 06-11-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 08 tháng 8 năm 1992 tại tỉnh Vĩnh Long.

Nơi thường trú: ấp H, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. Nơi ở hiện nay: đường T, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: nghề tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh S (đã chết) và bà Nguyễn Thị V; có chồng Võ Chí H1 (đã ly hôn); con: không có; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/10/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Trúc L: Ông Nguyễn Hồng N – Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1995; Địa chỉ: A, ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
  2. Ông Lê Văn T, sinh năm 1963 (vắng mặt).

    Địa chỉ: D Khóm A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

  3. Ông Trần Văn K, sinh năm 1962 (vắng mặt).

    Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

  4. Bà Lê Thị Tố N1, sinh năm 1972 (vắng mặt).

    Địa chỉ: Số B, đường B, Phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

  5. Anh Dư Quốc K1, sinh năm 1992 (vắng mặt).

    Địa chỉ: A N, Phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

  6. Anh Trần Nguyễn Hoàng N2, sinh năm 1973 (vắng mặt).

    Địa chỉ: F, khóm B, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Nguyễn Thị Kim D (vắng mặt).

    Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

  2. Chị Nguyễn Thị Nguyên N3 (vắng mặt).

    Địa chỉ: 4 Hồ B, Phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ năm 2015, Nguyễn Thị Trúc L làm việc tại các Ngân hàng. Thời gian từ tháng 5/2022 Trúc L làm việc tại Ngân hàng Đ1 – Chi nhánh tỉnh V (sau đây gọi tắt là Ngân hàng P2) với chức vụ Trưởng bộ phận khách hàng cá nhân.

Nguyễn Thị Trúc L mở nhiều tài khoản cá nhân tại các ngân hàng: Ngân hàng Q (sau đây gọi tắt là Ngân hàng N7); Ngân hàng Đ1; Ngân hàng H5 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng S2); Ngân hàng K5 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng T6); Ngân hàng Q1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng M3).

Ngoài ra, Trúc L còn mở tài khoản mang tên bà Trần Thị Ả với số tài khoản 100005156216 (bà Ả là bà ngoại của Trúc L); chị Nguyễn Thị Mỹ H2 số tài khoản 106000855190 (mợ dâu của Trúc L) tại Ngân hàng P2; các tài khoản của bà Ả, chị H2 sau khi được mở do Trúc L trực tiếp quản lý, sử dụng.

Từ năm 2020 đến năm 2021, Trúc L vay tiền của nhiều người để đầu tư bất động sản và cho vay lại để hưởng chệch lệch lãi suất. Do vay tiền nhiều người dẫn đến mất khả năng thanh toán nên Trúc L đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của những người Trúc L vay tiền sau để trả tiền gốc, tiền lãi cho những người Trúc L đã vay tiền trước đó.

Nguyễn Thị Trúc L đã lợi dụng sự tin tưởng của những người đã cho Trúc L vay tiền như các bị hại: anh Nguyễn Huy H, ông Lê Văn T, anh Dư Quốc K1, ông Trần Văn K, bà Lê Thị Tố N1, anh Trần Nguyễn Hoàng N2 với thông tin Trúc L cung cấp mục đích vay tiền của Trúc L là cho khách hàng vay tiền để tất toán các khoản vay của hợp đồng tín dụng tại các Ngân hàng đã đến hạn (dịch vụ đáo nợ Ngân hàng). Để tạo được sự tin tưởng của các bị hại Trúc L đã cung cấp số tài khoản của chị Thái Hồng P (mợ dâu của L); chị Nguyễn Thị Mỹ H2 (mợ dâu của Trúc L); Nguyễn Thiên N4 (thầy dạy lái xe ôtô cho L); Trần Khải M (bạn trai L); Nguyễn Tuấn K2 (đồng nghiệp từng công tác tại ngân hàng T6); tài khoản của những người Trúc L đã vay, trả tiền qua tài khoản của Nguyễn Thị D1 (chị S1 là người cho Trúc L vay tiền, Trúc L chuyển trả tiền cho chị S1 qua tài khoản của chị D1 do chị S1 cung cấp cho Trúc L); ông Nguyễn Thành D2 (cha ruột của Võ Thị Ngọc Y người cho Trúc L vay tiền) với thông tin đây là khách hàng vay tiền để các bị hại chuyển tiền vào tài khoản của những người nêu trên. Bằng thủ đoạn gian dối nêu trên Trúc L đã tạo được sự tin tưởng của các bị hại, Trúc L đã thực hiện hành vi nêu trên nhiều lần, liên tục trong thời gian dài vay tiền của các bị hại để chiếm đoạt số tiền của các bị hại cụ thể như sau:

1/ Số tiền Nguyễn Thị Trúc L chiếm đoạt của anh Nguyễn Huy H

Nguyễn Thị Trúc L và bị hại anh Nguyễn Huy H quen biết nhau do làm việc tại Ngân hàng (H là nhân viên Ngân hàng N7; Trúc L là nhân viên Ngân hàng P2). Anh H biết Trúc L có làm thêm dịch vụ cho khách hàng vay tiền để khách hàng tất toán hợp đồng tín dụng khi đến hạn, nên khi Trúc L gặp anh H hỏi việc vay tiền thì anh H đồng ý; anh H và Trúc L thỏa thuận mức lãi suất cho vay là 1%/ngày = 30%/tháng = 360%/năm; thời hạn vay là từ 07 ngày đến 10 ngày; mục đích vay tiền là cho khách hàng vay lại tất toán các hợp đồng tín dụng đến hạn đáo, còn khách hàng nào thì Trúc L không cung cấp thông tin.

Từ ngày 20/9/2022 đến ngày 29/9/2022, anh H đã cho Trúc L vay nhiều lần với số tiền: 15.549.999.974 đồng, cụ thể :

  • Ngày 20/9/2024, anh H cho Trúc L vay: 1.300.000.000 đồng; việc giao nhận tiền được thực hiện bằng cách anh H đã chuyển tiền vào tài khoản của Trúc L tại Ngân hàng P2. Thời hạn trả tiền gốc ngày 21/9/2022.
  • Ngày 21/9/2022, anh H cho Trúc L vay số tiền 2.150.000.000 đồng. Việc giao nhận tiền bằng cách Trúc L cung cấp cho anh H số tài khoản của chị Nguyễn Thị D1 tại Ngân hàng P2 để anh H chuyển tiền vào tài khoản của chị D1. Thời hạn trả tiền gốc ngày 21/9/2022.
  • Ngày 22/9/2022, anh H cho Trúc L vay số tiền 4.950.000.000 đồng. Việc giao nhận tiền bằng cách Trúc L cung cấp cho anh H số tài khoản của chị Nguyễn Thị D1 tại Ngân hàng P2 để anh H chuyển tiền vào tài khoản của chị D1. Anh H đã chuyển qua tài khoản của chị D1 số tiền 2.100.000.000 đồng và chuyển vào tài khoản của Trúc L tại Ngân hàng P2 số tiền còn lại. Thời hạn trả tiền gốc ngày 23/9/2022.
  • Ngày 23/9/2022, anh H cho Trúc L vay số tiền 3.550.000.000 đồng. Anh H chuyển tiền vay cho Trúc L vào tài khoản của chị Nguyễn Thị D1 tại Ngân hàng P2. Thời hạn trả tiền gốc ngày 23/9/2022.
  • Ngày 29/9/2022, anh H cho L vay số tiền 1.400.000.000 đồng. Anh H chuyển tiền vay cho Trúc L vào tài khoản của Trúc L tại Ngân hàng P2. Thời hạn trả tiền gốc ngày 03/10/2022.

Số tiền Trúc L đã vay của anh H, Trúc L không sử dụng cho khách hàng nào vay để thực hiện thủ tục tất toán hợp đồng tín dụng đến hạn.

* Trúc L sử dụng số tiền đã vay nêu trên để trả cho các khoản vay trước đó của Trúc L, đã vay cụ thể:

  • Trả Huỳnh Phương A số tiền: 338.500.000 đồng.
  • Trả Trần Thị Thu S1 (D1) số tiền: 10.567.799.989 đồng.
  • Trả Nguyễn Gia H3 số tiền: 3.735.999.998 đồng.
  • Trả Nguyễn Tấn K3 số tiền: 893.699.994 đồng.

Trong quá trình vay tiền của anh H, Trúc L và anh H đều thừa nhận Trúc L đã trả tiền gốc cho anh H 500.000.000 đồng; trả tiền lãi cho anh H nhiều lần với số tiền lãi là 1.633.000.000 đồng. Số tiền Trúc L đã chiếm đoạt của anh H là 13.367.000.000 đồng.

2/ Số tiền Nguyễn Thị Trúc L chiếm đoạt của ông Lê Văn T

Ông Lê Văn T là khách hàng của Ngân hàng P2 nên quen biết với Trúc L. Khoảng tháng 12/2022, Trúc L đề nghị vay tiền của ông T, mức lãi suất Trúc L và ông T thỏa thuận 0,25%/ngày = 7,5%/tháng = 90%/năm; thời hạn vay từ 07 ngày đến 10 ngày; mục đích là cho khách hàng vay tiền tất toán các hợp đồng tín dụng đến hạn.

Từ ngày 22/11/2022 đến ngày 16/01/2023, ông T đã cho Trúc L vay tiền nhiều lần :

  • Ngày 22/11/2022, ông T cho Trúc L vay: 400.000.000 đồng.
  • Ngày 15/12/2022, ông T cho Trúc L vay: 400.000.000 đồng.
  • Ngày 22/11/2022, ông T cho Trúc L vay: 1.100.000.000 đồng.
  • Ngày 22/12/2022, ông T cho Trúc L vay: 1.050.000.000 đồng.
  • Ngày 11/01/2023, ông T cho Trúc L vay: 1.000.000.000 đồng.
  • Ngày 13/01/2023, ông T cho L vay: 1.000.000.000 đồng.

Các khoản tiền cho vay nêu trên ông T đã chuyển tiền vào tài khoản của Trúc L tại Ngân hàng T6.

Ngày 16/01/2023, ông T cho Trúc L vay : 1.650.000.000 đồng; ông T đã chuyển tiền cho Trúc L vay vào tài khoản của chị Nguyễn Thị Mỹ H2, anh Nguyễn Thiên N4 tại Ngân hàng P2 do Trúc L cung cấp cho ông T.

Tổng cộng số tiền: 6.460.000.000 đồng.

Ngoài các khoản vay nêu trên, tháng 12/2022 ông T còn cho Trúc L vay số tiền 2.000.000.000 đồng thông qua ủy nhiệm chi của ông T cho chị Thái Hồng P (mợ dâu của L).

* Trúc L sử dụng số tiền đã vay nêu trên để trả cho:

  • Trả Lê Thị Kim D3 số tiền: 150.000.000 đồng.
  • Trả Trần Văn K số tiền: 350.000.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Gia H3 số tiền: 60.000.000 đồng.
  • Trả Võ Thị Ngọc Y số tiền: 1.200.000.000 đồng (ông Trung chuyển cho Thái Hồng P, Trúc L cung cấp số tài khoản của ông D2 (cha ruột Y) cho chị P yêu cầu chị P chuyển tiền vào tài khoản của ông D2).
  • Trả chị Nguyễn Thị Lan T1 số tiền 800.000.000 đồng (ông Trung chuyển tiền vào tài khoản của chị Thái Hồng P, Trúc L cung cấp cho chị P số tài khoản của bà Trần Thị Ả (bà ngoại L) đề nghị chị P chuyển tiền vào tài khoản của bà Ả, sau đó Trúc L sử dụng tài khoản của bà Ả để chuyển vào tài khoản của chị Nguyễn Thị Lan T1.
  • Trả Huỳnh Tiến H4 số tiền: 1.050.000.000 đồng.
  • Trả Võ Thị Ngọc Y số tiền: 955.000.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Tuấn K2 số tiền: 350.000.000 đồng.
  • Trả Dư Quốc K1 số tiền: 353.000.000 đồng.
  • Trả Võ Thị K4 số tiền 500.000.000 đồng (Trúc L cung cấp số tài khoản của chị Nguyễn Thị Mỹ H2 yêu cầu ông Trung chuyển tiền vào tài khoản của chị H2 do Trúc L quản lý. Sau khi ông Trung chuyển tiền xong, Trúc L sử dụng số tài khoản của chị H2 để chuyển trả tiền cho K4).
  • Trả Nguyễn Thị Kim D số tiền: 500.000.000 đồng (Trúc L cung cấp cho ông T số tài khoản của chị Nguyễn Thị Mỹ H2, sau khi ông Trung chuyển tiền xong, Trúc L sử dụng số tài khoản của chị H2 để chuyển trả tiền cho bà D).
  • Trả anh Nguyễn Huy H số tiền: 100.000.000 đồng.
  • Trả anh Trần Khải M số tiền: 35.000.000 đồng.
  • Trả chị Nguyễn Thị Tuyết M1 số tiền: 583.000.000 đồng.

Sau khi vay tiền của ông T, Trúc L đã trả ông T số tiền gốc 4.240.000.000 đồng; trả tiền lãi 66.320.000 đồng. Số tiền Trúc L chiếm đoạt của ông T là 4.273.000.000 đồng.

Khi vay tiền Trúc L có giao ông T quản lý hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA 112650, số vào sổ cấp GCN: CS 10879, cấp ngày 31/12/2020 mang tên ông Cao Văn T2 thửa đất 177, diện tích 131,3m2 đã chỉnh lý trang 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Nguyễn Thị Kim D ngày 29/3/2021; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 815156, số vào sổ cấp GCN CS 18968, ngày 08/12/2021 thửa 599, diện tích 208,5m2, đất trồng cây lâu năm mang tên bà Nguyễn Anh T3 đã chỉnh lý trang 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/7/2022 mang tên chị Nguyễn Thị Nguyên N3.

3/ Số tiền Nguyễn Thị Trúc L chiếm đoạt của bà Lê Thị Tố N1

Bà Lê Thị Tố N1 có quan hệ họ hàng với Trúc L. Khoảng tháng 02/2023, Trúc L đề nghị vay tiền của bà N1; mức lãi suất Trúc L và bà N1 thỏa thuận 0,5%/ngày đến 0.8%/ngày = 15%/tháng đến 18%/tháng = 180%/năm đến 240%/năm; thời hạn vay từ 01 ngày đến 09 ngày; mục đích vay tiền là cho khách hàng vay tiền tất toán các hợp đồng tín dụng đến hạn.

Từ ngày 22/02/2023 đến ngày 24/02/2023, bà N1 đã cho Trúc L vay nhiều lần với số tiền: 3.100.000.000 đồng cụ thể:

  • Ngày 22/02/2023, bà N1 cho Trúc L vay 1.500.000.000 đồng
  • Ngày 23/02/2023, bà N1 cho Trúc L vay 1.300.000.000 đồng.
  • Ngày 24/02/2023, bà N1 cho Trúc L vay số tiền: 300.000.000 đồng

* Số tiền vay của bà N1, Trúc L đã sử dụng như sau:

  • Trả Nguyễn Huy H số tiền: 605.000.000 đồng.
  • Trả Dư Quốc K1 số tiền : 1.335.000.000 đồng.
  • Trả Võ Thị Ngọc Y số tiền: 36.945.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Thị Anh Đ số tiền: 140.000.000 đồng.
  • Trả Đào Thị N5 số tiền: 200.000.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Gia H3 số tiền: 130.000.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Thị Kim D số tiền: 146.000.000 đồng.
  • Trả Trần Khải M số tiền: 3.800.000 đồng.
  • Trả tiền điện sinh hoạt: 3.000.000 đồng.

Sau khi vay tiền Trúc L đã trả tiền gốc cho bà N5 900.000.000 đồng; trả tiền lãi 247.800.000 đồng. Số tiền Trúc L chiếm đoạt của bà N5 1.952.200.000 đồng.

4/ Số tiền Nguyễn Thị Trúc L chiếm đoạt của ông Trần Văn K

Ông Trần Văn K là khách hàng của Trúc L. Khoảng tháng 01/2023, Trúc L đề nghị vay tiền của ông K, mức lãi suất Trúc L và ông K thỏa thuận 0,5%/ngày = 15%/tháng = 180%/năm; thời hạn vay từ 01 ngày đến 09 ngày; mục đích Trúc L nói vay tiền của ông K là cho khách hàng vay tiền tất toán các hợp đồng tín dụng đến hạn. Do đó, khi Trúc L cần vay tiền thì thông báo cho ông K số tiền, ông K sẽ cho Trúc L vay tiền.

Từ ngày 22/02/2023 đến ngày 24/02/2023, ông K đã cho Trúc L vay nhiều lần với số tiền 2.300.000.000 đồng:

  • Ngày 30/01/2023, ông K cho Trúc L vay: 1.000.000.000 đồng.
  • Ngày 31/01/2023, ông K cho Trúc L vay: 200.000.000 đồng.
  • Ngày 03/02/2023, ông K cho Trúc L vay: 1.000.000.000 đồng.
  • Ngày 04/02/2023, ông K cho Trúc L vay 100.000.000 đồng.

* Số tiền vay của ông K, Trúc L đã sử dụng như sau:

  • Trả Nguyễn Huy H số tiền: 570.000.000 đồng.
  • Trả Dư Quốc K1 số tiền: 160.850.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Thị Kim D số tiền: 212.000.000 đồng.
  • Trả Trần Khải M số tiền: 8.000.000 đồng.
  • Trả Lê Văn T số tiền: 300.000.000 đồng.
  • Trả Lê Kha N6 số tiền: 12.000.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Tấn K3 số tiền: 100.000.000 đồng.
  • Trả Võ Thị Kiều số tiền: 450.000.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Tấn K3 số tiền: 474.000.000 đồng.
  • Trả Võ Thị Ngọc Y số tiền: 60.000.000 đồng.
  • Trả tiền điện thoại: 1.541.000 đồng.

Sau khi vay tiền, Trúc L đã trả ông K3 số tiền gốc 700.000.000 đồng; trả tiền lãi 60.000.000 đồng. Số tiền Trúc L chiếm đoạt của ông K3 là 1.540.000.000 đồng.

5/ Số tiền Nguyễn Thị Trúc L chiếm đoạt của anh Dư Quốc K1

Anh Dư Quốc K1 cùng công tác tại Ngân hàng P2 với Trúc L. Khoảng tháng 02/2023, Trúc L hỏi vay tiền của anh K1, mức lãi suất Trúc L và anh K1 thỏa thuận 1.2%/ngày = 36%/tháng = 432%/năm; thời hạn vay từ 01 ngày đến 09 ngày; mục đích vay tiền là cho khách hàng vay tiền tất toán các hợp đồng tín dụng đến hạn, anh K1 đã cho Trúc L vay số tiền: 2.749.999.998 đồng :

  • Ngày 22/02/2023, anh K1 cho Trúc L vay: 1.099.999.998 đồng.
  • Ngày 23/02/2023, anh K1 cho Trúc L vay: 1.400.000.000 đồng (trả tiền lãi trước 78.000.000 nên anh K1 chuyển qua tài khoản của Trúc L số tiền 1.321.999.998 đồng).
  • Ngày 27/02/2023, anh K1 cho Trúc L vay: 250.000.000 đồng.

* Số tiền vay của anh K1, Trúc L đã sử dụng như sau:

  • Trả Nguyễn Tấn K3 số tiền: 345.000.000 đồng.
  • Trả Võ Thị Ngọc Y số tiền: 1.067.000.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Thị Kim D số tiền: 330.000.000 đồng.
  • Trả Đào Thị N5 số tiền: 40.000.000 đồng.
  • Trả Phan Thị Hồng T4 số tiền: 34.999.980 đồng.
  • Trả Lê Văn T số tiền: 300.000.000 đồng.
  • Trả Võ Thị Kiều số tiền: 100.000.000 đồng.
  • Trả Trần Văn K số tiền: 200.000.000 đồng.
  • Trả tiền điện số tiền: 2.025.065 đồng.

Sau khi vay tiền, Trúc L đã trả tiền lãi cho anh K1 số tiền 568.600.000 đồng. Số tiền Trúc L đã chiếm đoạt của anh K1 là 2.181.399.998 đồng.

6/ Số tiền Nguyễn Thị Trúc L chiếm đoạt của anh Trần Nguyễn Hoàng Nam

Anh Trần Nguyễn Hoàng N2 là khách hàng của Trúc L, khoảng tháng 03/2023 Trúc L hỏi vay tiền tiền của anh N2, mức lãi suất Trúc L và anh N2 thỏa thuận 1.2%/ngày = 36%/tháng = 432%/năm; thời hạn vay từ 01 ngày đến 09 ngày; mục đích Trúc L nói vay tiền của anh N2 là cho khách hàng vay tiền tất toán các hợp đồng tín dụng đến hạn.

  • Ngày 20/3/2023, anh N2 cho Trúc L vay số tiền 400.000.000 đồng.

* Số tiền vay của anh N2, Trúc L đã sử dụng như sau:

  • Trả Dư Quốc Khánh số tiền: 61.000.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Thị Kim D số tiền: 125.000.000 đồng.
  • Trả Lưu Chí M2 số tiền: 200.000.000 đồng.
  • Trả Trần Khải M số tiền: 2.000.000 đồng.
  • Trả Lê Thanh P1 số tiền: 10.000.000 đồng.

Sau khi vay tiền, Trúc L đã trả tiền lãi cho anh N2 43.000.000 đồng. Số tiền Trúc L chiếm đoạt của anh N2 357.000.000 đồng.

Nguyễn Thị Trúc L thừa nhận số tiền Trúc L vay của các bị hại anh H, ông T, ông K, anh K1, bà N5, anh N2, Trúc L trả nợ tiền gốc, tiền lãi cho các khoản vay trước đó của Trúc L, trả tiền lãi, sử dụng đóng tiền điện sinh hoạt, tiêu xài cá nhân...Trúc L không cho khách hàng nào vay để thực hiện thủ tục tất toán hợp đồng tín dụng khi đến hạn.

Các bị hại anh Nguyễn Huy H, ông Lê Văn T, ông Trần Văn K, bà Lê Thị Tố N1, anh Dư Quốc K1, anh Trần Nguyễn Hoàng N2 đều thừa nhận khi Trúc L vay tiền, Trúc L đều đưa ra thông tin mục đích Trúc L vay tiền các bị hại là để cho khách hàng vay thực hiện thủ tục tất toán các hợp đồng tín dụng đến hạn. Vì tin tưởng Trúc L nên các bị hại đồng ý cho Trúc L vay tiền. Sau khi vay tiền Trúc L chỉ trả một phần tiền gốc, tiền lãi hoặc trả một phần tiền lãi. Khi đến hạn quá hạn trả tiền gốc Trúc L không thực hiện nên các bị hại đã làm đơn tố giác hành vi của Trúc L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 53/2024/HS-ST ngày 06-11-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, đã tuyên xử:

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Trúc L phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Trúc L 18 (Mười tám) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 27/10/2023.

2/ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 246 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và các bị hại: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Trúc L trả cho các bị hại số tiền như sau:

  • Bị cáo trả anh Nguyễn Huy H số tiền: 13.366.999.974 đồng (Mười ba tỷ ba trăm sáu mươi sáu triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm bảy mươi bốn đồng).
  • Bị cáo trả ông Lê Văn T số tiền: 4.273.680.000 đồng (Bốn tỷ hai trăm bảy mươi ba triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
  • Bị cáo trả bà Lê Thị Tố N1 số tiền: 1.952.800.000 đồng (Một tỷ chín trăm năm mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng).
  • Bị cáo trả anh Dư Quốc K1 số tiền: 2.181.399.996 đồng (Hai tỷ một trăm tám mươi mốt triệu ba trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi sáu đồng).
  • Bị cáo trả ông Trần Văn K số tiền: 1.540.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm bốn mươi triệu đồng).
  • Bị cáo trả anh Trần Nguyễn Hoàng N2 số tiền: 357.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi bảy triệu đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo.

Ngày 21 tháng 11 năm 2025, bị cáo Nguyễn Thị Trúc L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 20 tháng 11 năm 2025, bị hại Nguyễn Huy H kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo, xem xét hành vi của ông Nguyễn Đức T5 (chồng của bị cáo L) đồng phạm, buộc những người đã nhận tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại H phải trả lại cho bị hại.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Thị Trúc L xin rút toàn bộ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Nguyễn Huy H xin rút kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo, xem xét hành vi của ông Nguyễn Đức T5 (chồng của bị cáo L) đồng phạm. Giữ nguyên kháng cáo buộc những người đã nhận tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại H phải trả lại cho bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút kháng cáo của bị cáo, của bị hại để đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các nội dung đã rút kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Huy H buộc những người đã nhận tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại H phải trả lại cho bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

* Về tố tụng:

[1]. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Trúc L xin rút toàn bộ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và bị hại Nguyễn Huy H xin rút kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo và xem xét hành vi của ông Nguyễn Đức T5 (chồng của bị cáo L) đồng phạm là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo đã rút.

* Về nội dung:

[2]. Căn cứ vào lời khai của bị cáo Trúc L, lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án trong vụ án là phù hợp với nhau. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm “xác định bị cáo Nguyễn Thị Trúc L đã chiếm đoạt số tiền của các bị hại là 32.509.990.998đ” sau đó bị cáo dùng số tiền chiếm đoạt để trả các khoản nợ bị cáo đã vay trước đó là có căn cứ. Cụ thể:

1. Số tiền Nguyễn Thị Trúc L vay bị hại Nguyễn Huy H là 15.549.999.974 đồng, sau khi trả gốc và lãi cho bị hại H. Số tiền còn lại bị cáo chiếm đoạt là 13.367.000.000 đồng, bị cáo Trúc L đã sử dụng số tiền như sau:

  • Trả Huỳnh Phương A số tiền: 338.500.000 đồng.
  • Trả Trần Thị Thu S1 (D1) số tiền: 10.567.799.989 đồng.
  • Trả Nguyễn Gia H3 số tiền: 3.735.999.998 đồng.
  • Trả Nguyễn Tấn K3 số tiền: 893.699.994 đồng.

2. Số tiền Nguyễn Thị Trúc L chiếm đoạt của bị hại Lê Văn T số tiền: 8.460.000.000 đồng, Bị cáo Trúc L sử dụng số tiền trên như sau:

  • Trả Lê Thị Kim D3 số tiền: 150.000.000 đồng.
  • Trả Trần Văn K số tiền: 350.000.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Gia H3 số tiền: 60.000.000 đồng.
  • Trả Võ Thị Ngọc Y số tiền: 1.200.000.000 đồng.
  • Trả chị Nguyễn Thị Lan T1 số tiền 800.000.000 đồng.
  • Trả Huỳnh Tiến H4 số tiền: 1.050.000.000 đồng.
  • Trả Võ Thị Ngọc Y số tiền: 955.000.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Tuấn K2 số tiền: 350.000.000 đồng.
  • Trả Dư Quốc K1 số tiền: 353.000.000 đồng.
  • Trả Võ Thị K4 số tiền 500.000.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Thị Kim D số tiền: 500.000.000 đồng.
  • Trả anh Nguyễn Huy H số tiền: 100.000.000 đồng.
  • Trả anh Trần Khải M số tiền: 35.000.000 đồng.
  • Trả chị Nguyễn Thị Tuyết M1 số tiền: 583.000.000 đồng.
  • Sau khi vay tiền của ông T, Trúc L đã trả ông T số tiền gốc 4.240.000.000 đồng; trả tiền lãi 66.320.000 đồng.

3. Số tiền Nguyễn Thị Trúc L chiếm đoạt của bà Lê Thị Tố N1 số tiền 3.100.000.000 đồng, bị cáo Trúc L đã sử dụng như sau:

  • Trả Nguyễn Huy H số tiền: 605.000.000 đồng.
  • Trả Dư Quốc K1 số tiền : 1.335.000.000 đồng.
  • Trả Võ Thị Ngọc Y số tiền: 36.945.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Thị Anh Đ số tiền: 140.000.000 đồng.
  • Trả Đào Thị N5 số tiền: 200.000.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Gia H3 số tiền: 130.000.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Thị Kim D số tiền: 146.000.000 đồng.
  • Trả Trần Khải M số tiền: 3.800.000 đồng.
  • Trả tiền điện sinh hoạt: 3.000.000 đồng.
  • Sau khi vay tiền Trúc L đã trả tiền gốc cho bà N5 900.000.000 đồng; trả tiền lãi 247.800.000 đồng.

4. Số tiền Nguyễn Thị Trúc L chiếm đoạt của ông Trần Văn K số tiền 2.300.000.000 đồng, bị cáo Trúc L đã sử dụng như sau:

  • Trả Nguyễn Huy H số tiền: 570.000.000 đồng.
  • Trả Dư Quốc K1 số tiền: 160.850.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Thị Kim D số tiền: 212.000.000 đồng.
  • Trả Trần Khải M số tiền: 8.000.000 đồng.
  • Trả Lê Văn T số tiền: 300.000.000 đồng.
  • Trả Lê Kha N6 số tiền: 12.000.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Tấn K3 số tiền: 100.000.000 đồng.
  • Trả Võ Thị Kiều số tiền: 450.000.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Tấn K3 số tiền: 474.000.000 đồng.
  • Trả Võ Thị Ngọc Y số tiền: 60.000.000 đồng.
  • Trả tiền điện thoại: 1.541.000 đồng.
  • Sau khi vay tiền Trúc L đã trả ông K3 số tiền gốc 700.000.000 đồng; trả tiền lãi 60.000.000 đồng. Số tiền, Trúc L chiếm đoạt của ông K3 1.540.000.000 đồng.

5. Số tiền Nguyễn Thị Trúc L chiếm đoạt của anh Dư Quốc K1 số tiền: 2.749.999.998 đồng, bị cáo Trúc L đã sử dụng như sau:

  • Trả Nguyễn Tấn K3 số tiền: 345.000.000 đồng.
  • Trả Võ Thị Ngọc Y số tiền: 1.067.000.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Thị Kim D số tiền: 330.000.000 đồng.
  • Trả Đào Thị N5 số tiền: 40.000.000 đồng.
  • Trả Phan Thị Hồng T4 số tiền: 34.999.980 đồng.
  • Trả Lê Văn T số tiền: 300.000.000 đồng.
  • Trả Võ Thị Kiều số tiền: 100.000.000 đồng.
  • Trả Trần Văn K số tiền: 200.000.000 đồng.
  • Trả tiền điện số tiền: 2.025.065 đồng.
  • Sau khi vay tiền, Trúc L đã trả tiền lãi cho anh K1 số tiền 568.600.000 đồng. Số tiền Trúc L đã chiếm đoạt của anh K1 là 2.181.399.998 đồng.

6. Số tiền Nguyễn Thị Trúc L chiếm đoạt của anh Trần Nguyễn Hoàng N2 vay số tiền 400.000.000 đồng, bị cáo Trúc L đã sử dụng như sau:

  • Trả Dư Quốc Khánh số tiền: 61.000.000 đồng.
  • Trả Nguyễn Thị Kim D số tiền: 125.000.000 đồng.
  • Trả Lưu Chí M2 số tiền: 200.000.000 đồng.
  • Trả Trần Khải M số tiền: 2.000.000 đồng.
  • Trả Lê Thanh P1 số tiền: 10.000.000 đồng.
  • Sau khi vay tiền, Trúc L đã trả tiền lãi cho anh N2 43.000.000 đồng. Số tiền Trúc L chiếm đoạt của anh N2 357.000.000 đồng.

[3]. Như vậy, bị cáo Trúc L đưa ra thông tin mục đích Trúc L vay tiền của các bị hại trên để cho khách hàng vay lại thực hiện thủ tục tất toán (đáo hạn) các hợp đồng tín dụng đến hạn, nhưng sau khi chiếm đoạt được tiền của bị hại, bị cáo đã sử dụng vào mục đích khác, trả nợ cho các chủ nợ nêu trên. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Trúc L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.

[4]. Xét số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại để trả nợ cho các chủ nợ nêu trên nhưng không có sự thỏa thuận giữa bị cáo và các bị hại. Cơ quan điều tra đã xác định được cụ thể dòng tiền chu chuyển như đã nêu trên và xác định được ngoài số tiền lừa đảo chiếm đoạt của các bị hại thì bị cáo không có nguồn tiền nào khác.

[5]. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự thì số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại để trả nợ cho các chủ nợ nêu trên là tài sản có nguồn gốc do phạm tội mà có nên phải thu hồi, trả lại cho chủ sở hữu. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không phát hiện ra để đưa những người đã nhận tiền do bị cáo phạm tội mà có vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để buộc phải trả lại số tiền có nguồn gốc do phạm tội mà có cho các bị hại là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bị hại trong vụ án. Nên kháng cáo của bị hại Nguyễn Huy H được chấp nhận, hủy một phần bản án sơ thẩm đối với phần bồi thường dân sự và án phí dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại.

[6]. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút kháng cáo của bị cáo, kháng cáo của bị hại, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các nội dung đã rút kháng cáo là có căn cứ.

[7]. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Huy H yêu cầu buộc những người đã nhận tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại H phải trả lại cho bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm là không có căn cứ chấp nhận.

[8]. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị hại Nguyễn Huy H không phải chịu.

[9]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 342, Điều 348; điểm c khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Trúc L về xin giảm nhẹ hình phạt;
  2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị hại Nguyễn Huy H về đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo và xem xét hành vi của ông Nguyễn Đức T5 (chồng của bị cáo L) đồng phạm.

Các quyết định của bản án sơ thẩm đối với nội dung đã đình chỉ nêu trên có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Huy H về bồi thường dân sự.

Hủy Bản án Hình sự sơ thẩm số 53/2024/HS-ST ngày 06-11-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về bồi thường dân sự và án phí dân sự sơ thẩm. Cụ thể huỷ các nội dung sau:

“2/ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 246 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và các bị hại: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Trúc L trả cho các bị hại số tiền như sau:

  • Bị cáo trả anh Nguyễn Huy H số tiền: 13.366.999.974 đồng (Mười ba tỷ ba trăm sáu mươi sáu triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm bảy mươi bốn đồng).
  • Bị cáo trả ông Lê Văn T số tiền: 4.273.680.000 đồng (Bốn tỷ hai trăm bảy mươi ba triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
  • Bị cáo trả bà Lê Thị Tố N1 số tiền: 1.952.800.000 đồng (Một tỷ chín trăm năm mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng).
  • Bị cáo trả anh Dư Quốc K1 số tiền: 2.181.399.996 đồng (Hai tỷ một trăm tám mươi mốt triệu ba trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi sáu đồng).
  • Bị cáo trả ông Trần Văn K số tiền: 1.540.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm bốn mươi triệu đồng).
  • Bị cáo trả anh Trần Nguyễn Hoàng N2 số tiền: 357.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi bảy triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.”

“4.2/ Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo nộp 308.718.799 đồng (Ba trăm lẻ tám triệu bảy trăm mười tám nghìn bảy trăm chín mươi chín đồng)”.

  1. Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long để xét xử lại về bồi thường dân sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  2. Án phí hình sự phúc thẩm: bị hại Nguyễn Huy H không phải chịu.

6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không bị hủy có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • Tòa án nhân dân tối cao;
  • VKSNDCC tại TPHCM;
  • TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • Công an tỉnh Vĩnh Long;
  • Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
  • Cục THADS tỉnh Vĩnh Long;
  • Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Long;
  • Bị cáo - Tống đạt qua TTG công an tỉnh Vĩnh Long;
  • Người tham gia tố tụng;
  • Lưu VT: LT. ĐTTB (23b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Khương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2025/HS-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 181/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Trúc L phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger