Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2025/DS-PT

Ngày 19 tháng 11 năm 2025

V/v “Kiện đòi tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình.
  • - Các Thẩm phán: Ông Đỗ Thế Bình; Bà Triệu Thị Luyện.
  • - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 238/2025/TLPT-DS ngày 17/10/2025 về “kiện đòi tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2025/DSST Ngày 14/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 04/2025/QĐPT-DS ngày 27 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1962; Địa chỉ: Khu Y, phường V, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
  • - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số G, đường N, phường K, tỉnh Bắc Ninh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  • - Bị đơn: Bà Quách Thị B, sinh năm 1963 (có mặt) và ông Ngô Văn D, sinh năm 1960 (vắng mặt); Cùng địa chỉ: Khu D, phường V, tỉnh Bắc Ninh.
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Quách Thị B: Ông Nguyễn Văn T – Luật sư, thuộc Văn phòng L - Đoàn luật sư tỉnh B; Địa chỉ: Số C, tổ A, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Trung V, sinh năm 1961; Địa chỉ: khu Y, phường V, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

Do có kháng cáo của bà Quách Thị B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau: Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Do có mối quan hệ quen biết nên bà Nguyễn Thị M có nhiều lần cho vợ chồng bà Quách Thị B và ông Ngô Văn D vay tiền, đến ngày 11/9/2006 âm lịch, bà B viết giấy biên nhận vay tiền, nội dung vay tiền thể hiện vợ chồng bà B ông D có vay của bà M tổng số tiền là 220.000.000 đồng, lãi suất không ghi trong giấy vay nhưng hai bên thỏa thuận miệng là 1,5%/ tháng. Giấy biên nhận vay tiền cũng thể hiện hẹn ngày 14/9/2006 âm lịch vợ chồng Bẩy D1 trả cho bà M số tiền 50.000.000 đồng, số tiền còn lại cứ 30 ngày trả một lần số tiền 30.000.000 đồng cả gốc và lãi cho đến khi thanh toán xong. Tuy nhiên, từ đó đến nay, bà M đã đòi tiền nhiều lần nhưng vợ chồng ông D1 bà B không trả.

Căn cứ yêu cầu khởi kiện: Nguyên đơn cung cấp Bản gốc “Giấy biên nhận vay tiền” có chữ ký, chữ viết của bà Quách Thị B.

Do vậy, bà Nguyễn Thị M làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc vợ chồng bà Quách Thị B và ông Ngô Văn D phải trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền nợ gốc là: 220.000.000 đồng và lãi suất tính từ ngày vay 11/9/2006 âm lịch (tức ngày 01/11/2006 dương lịch) đến ngày xét xử sơ thẩm.

Bị đơn Quách Thị B trình bày: Bà B và bà Nguyễn Thị M có mối quan hệ quen biết. Năm 2004 – 2005, do cần tiền để đầu tư kinh doanh nên bà có nhiều lần vay tiền của bà Nguyễn Thị M. Khi vay thì bà vay thành nhiều đợt, mỗi đợt vay từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, vừa vay vừa trả, lãi suất vay hai bên thỏa thuận miệng là 0,15%/tháng hoặc 0.2%/tháng tùy từng đợt vay. Đến năm 2006, do nhà bà bị phá sản nên bà không không trả lãi đều đặn cho bà M (tháng trả, tháng không trả) nên bà có viết “Giấy biên nhận vay tiền” ngày 11/9/2006 (âm lịch) cho bà Nguyễn Thị M. Theo Giấy biên nhận vay tiền thì bà B thừa nhận “có vay của bà Nguyễn Thị M tổng số tiền dồn hết các khoản là 1 chỗ: 170.000.000 đồng, 1 chỗ: 50.000.000 đồng. Tổng 2 chỗ là 220.000.000 đồng”.

Bà B xác nhận người vay trong “Giấy biên nhận vay tiền” ngày 11/9/2006 (âm lịch) là bà Quách Thị B, sinh năm 1963, vì từ trước đến nay bà quen viết là B1. Khi vay tiền của bà M thì bà M có cầm của bà 01 Bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thường gọi là sổ đỏ) để làm tin, thỏa thuận miệng khi nào trả hết tiền thì bà M sẽ trả sổ đỏ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà M cầm là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bà mang tên hộ ông Ngô Văn D vào số cấp sổ là 00045 QSDĐ/QĐ số 25 do Ủy ban nhân dân huyện Y cấp ngày 06/01/2003.

Từ năm 2006 đến năm 2009, bà B có tháng trả, tháng không trả được nên bà M yêu cầu bà viết sổ và giấy vay tiền chốt số tiền nợ đã dồn nợ gốc và lãi từ khoản vay 220.000.000 đồng lên thành 275.800.000 đồng. Đồng thời bà M yêu cầu bà B viết vào giấy vay tiền theo mẫu giấy của nhà bà M, trừ 800.000 đồng tiền lãi cho bà B để viết tròn số tiền là 275.000.000 đồng.

Quá trình vay nợ, bà N, bà M đến nhà bà B và nói bà N là người quen của bà M để chuyển nợ từ bà M sang bà N. Bà không biết bà N tên tuổi địa chỉ ở đâu nhưng bà N có nói xin được tiền lãi của bà M và do tin tưởng bà M nên bà B đưa tiền cho bà N để trả cho bà M, nên sau khi trả hết tiền thì bà N trả cho bà bản gốc 02 giấy vay tiền và sổ đỏ do bà M cầm của bà. Đối với giấy biên nhận vay số tiền 220.000.000 đồng thì bà B có yêu cầu bà M trả lại nhưng bà M bảo làm mất. Đến nay, bà B khẳng định đã trả hết tiền vay nợ cho bà M, không còn nợ bà M nên bà M không có quyền khởi kiện bà. Đồng thời đề nghị Tòa án xem xét áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu khởi kiện vay tài sản của bà Nguyễn Thị M do từ khi trả xong hết nợ đến nay gần 20 năm bà M không đòi bà một khoản tiền nào khác.

Ngoài ra, bà B trình bày việc vay nợ giữa bà và bà M là khoản vay cá nhân làm ăn kinh doanh riêng của bà, chồng bà ông Ngô Văn D không biết và cũng không liên quan đến khoản vay này nên ông Ngô Văn D không có nghĩa vụ phải trả nợ cùng bà.

Đối với yêu cầu khởi kiện bà Nguyễn Thị M yêu cầu bà Quách Thị B và chồng bà là ông Ngô Văn D phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền nợ gốc là 220.000.000 đồng và lãi suất tính đến ngày xét xử thì bà không đồng ý.

Tài liệu chứng cứ bị đơn bà Quách Thị B cung cấp cho Tòa án: 01 bản gốc giấy vay tiền ghi ngày 28/5/2009 âm lịch, 01 bản gốc giấy biên nhận vay tiền ghi ngày 15/10/2008, Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Ngô Văn D.

Bị đơn là ông Ngô Văn D đã được Tòa án triệu tập làm việc nhưng có đơn đề nghị từ chối tham gia tố tụng và đề nghị vắng mặt tại các buổi làm việc, phiên tòa xét xử của Tòa án. Trong đơn đề nghị, ông D trình bày ông không biết việc vợ ông là bà Quách Thị B và bà Nguyễn Thị M vay tiền khi nào, vay bao nhiêu tiền và vay làm việc gì. Ông xác định không có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Trung V trình bày: Ông V là chồng của bà M, việc bà M khởi kiện và cho bà B vay tiền như thế nào ông không biết và không nắm được. Tiền vợ ông cho bà B vay là tiền của cá nhân vợ ông nên ông xác định không có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Ông không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M, không bổ sung tài liệu, chứng cứ hay yêu cầu nào khác.

Tại phiên toà sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc vợ chồng bà Quách Thị B, ông Ngô Văn D phải trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền nợ gốc là 220.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày vay là ngày 01/11/2006 dương lịch đến ngày xét xử sơ thẩm là 14/7/2025 với mức lãi suất là 18%/năm là 740.630.000 đồng, tổng cộng cả gốc và lãi là: 960.630.000 đồng. Bà M khẳng định không có tài liệu chứng cứ nào thể hiện việc chuyển nợ từ bà M cho bà N và bà M chưa nhận được tiền trả nợ của bà B hay của bà N như bà B trình bày. Bà M không biết bà N là ai và tên tuổi địa chỉ ở đâu.

Bị đơn bà Quách Thị B cho rằng: Khi bà B vay số tiền 220.000.000 đồng của bà M thì có thế chấp tài sản là 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thường gọi là sổ đỏ) của nhà bà B, thỏa thuận khi nào trả được tiền thì sẽ trả sổ đỏ. Bà N đã đòi hộ bà M được số tiền 220.000.000 đồng của bà B và đã trả bà M. Sau khi bà N đã nhận đủ số tiền 220.000.000 đồng và đã giao trả tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn. Do đó, bà B không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện.

Từ những nội dung trên Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh đã căn cứ vào Điều 26, 35, 39, 147, 184, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 255, 256, 280, 290 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 155, 156, 157, 164, 166, 280, 429, 688 Bộ luật dân sự 2015; Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về việc buộc bà Quách Thị B phải trả cho bà M số tiền nợ gốc là: 220.000.000 đồng.

Buộc bà Quách Thị B phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền là 220.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm hai mươi triệu đồng).

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh B2 bị đơn là bà Quách Thị B và ông Ngô Văn D phải thanh toán số tiền lãi là 740.630.000 đồng. (Bằng chữ: Bẩy trăm bốn mươi triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng).
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh B2 ông Ngô Văn D phải có trách nhiệm liên đới cùng bà Quách Thị B trả nợ cho bà Nguyễn Thị M.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lệ phí Tòa án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 28 tháng 7 năm 2025, bị đơn bà Quách Thị B kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vắng mặt, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn bà Quách Thị B giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Trong phần tranh luận, người bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như đã phân tích trong nội dung trình bày kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Quách Thị B, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Về án phí

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Quách Thị B trong thời hạn luật định nên được Tòa án xem xét.

Bản án sơ thẩm xác định về quan hệ “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Bắc Ninh là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ vào Giấy biên nhận vay tiền ngày 11/9/2006 âm lịch (tức ngày 01/11/2006 dương lịch), bản án sơ thẩm xác định thời hiệu khởi kiện “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” đã hết và xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp là “Kiện đòi tài sản” để bảo vệ quyền sở hữu đòi lại số tiền nợ gốc theo khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 155 Bộ luật Dân sự là phù hợp.

[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu do các đương sự cung cấp và lời trình bày của bà M, bà B thì xét thấy: Theo Giấy vay tiền ngày 11/9/2006 âm lịch (tức ngày 01/11/2006 dương lịch), bà Quách Thị B có vay của bà Nguyễn Thị M tổng số tiền là 220.000.000 đồng. Theo nội dung giấy vay tiền nêu trên, bà M và bà B đều thừa nhận đúng bà B viết và ký tên xác nhận, bà B thừa nhận có vay của bà M số tiền gốc 220.000.000 đồng. Xét thấy đây là tình tiết không cần chứng minh theo quy định của Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Mặt khác, nội dung và hình thức của giấy vay tiền giữa bà M và bà B đảm bảo quy định các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự tại Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005 (tương ứng Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015). Bà B thừa nhận chữ ký và chữ viết của mình. Do vậy, Giấy vay tiền ngày 11/9/2006 âm lịch (tức ngày 01/11/2006 dương lịch), bà Quách Thị B có vay của bà Nguyễn Thị M là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

Bản án sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án quyết định chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Quách Thị B phải trả bà Nguyễn Thị M số tiền nợ gốc là 220.000.000 đồng. Bị đơn bà Quách Thị B kháng cáo cho rằng bà đã trả đủ số tiền 220.000.000 đồng. Với lý do, khi vay tiền bà B đã thế chấp tài sản là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đảm bảo khoản vay. Sau đó, bà M đã đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N, để bà N đòi số tiền 220.000.000 cho bà M. Bà B đã trả hết tiền nên mới lấy lại được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi bà B lấy lại được giấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nghĩa là khoản vay đã thanh toán xong, không quan trọng việc bà M còn cầm hay không cầm giấy tờ vay gốc hay khoản tiền nợ bà N có đưa trả cho bà M hay không.

Tòa án đã tiến hành đối chất giữa bà M và bà B, đồng thời đề nghị cung cấp tên tuổi, địa chỉ của bà N nhưng cả bà M và bà B đều không cung cấp được cho Tòa án. Bà M không thừa nhận lời trình bày của bà B về việc bà N đòi hộ bà M số tiền trên. Ngoài lời trình bày của mình, bà B không đưa ra được căn cứ chứng minh việc bà đã trả số tiền 220.000.000 đồng cho bà M, cũng như bà N. Do đó, không có căn cứ để xác định việc bà B đã trả cho bà M số tiền 220.000.000 đồng.

Đối với thỏa thuận về việc giao nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Bà Minh xác N1 khi cho bà B vay tiền có cầm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông D do bà B đưa để làm tin, không phải thế chấp tài sản. Việc hai bên vay tiền có để lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng bản gốc để bảo đảm khoản vay, trong trường hợp này không được hiểu là thế chấp tài sản theo kháng cáo của bà B. Bởi lẽ, Giấy vay tiền các bên cũng không thoả thuận khi nào trả hết tiền vay thì bà M phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mặt khác, giấy vay tiền cũng không thể hiện rõ đối tượng, chủ thể thực hiện việc thế chấp tài sản như: Quyền sử dụng thửa đất ở đâu, diện tích bao nhiêu, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai... Việc thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất phải được đăng ký thế chấp và phù hợp về nội dung, hình thức hợp đồng thế chấp theo quy định tại Điều 342, 343 Bộ luật dân sự năm 2005. Do vậy, việc bà M trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà B không phải là căn cứ để xác định bà B đã thanh toán xong khoản nợ trên. Bà B cho rằng khi bà lấy lại được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nghĩa là khoản vay đã thanh toán, không quan trọng việc bà M còn cầm hay không cầm giấy tờ vay gốc là không có căn cứ.

Trong giai đoan chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa, bà B kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào mới chứng minh bà đã trả bà M số tiền nợ gốc 220.000.000 đồng nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo, do đó, cần giữ bản án sơ thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DSST Ngày 14/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Bắc Ninh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Quách Thị B không được chấp nhận nên bà B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà B là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Quách Thị B. Giữ nguyên quyết định bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DSST Ngày 14/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh.
  2. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho bà Quách Thị B.
  3. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DSST Ngày 14/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Bắc Ninh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND Khu vực 6 – Bắc Ninh;
  • - THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2025/DS-PT ngày 19/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 181/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kiện đòi tài sản giữa Bà Nguyễn Thị Minh, sinh năm 1962; Bị đơn: Bà Quách Thị Bẩy, sinh năm 1963
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger