Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 181/2024/HS-ST

Ngày: 30-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

 

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Bích Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Đô, ông Nguyễn Bính

Thư ký phiên tòa: bà Phạm Giang Ngọc Hà - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: ông Giang Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 157/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 228/2024/HSST- QĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Minh A; Giới tính: nam; Tên gọi khác: không;

Sinh ngày 10 tháng 12 năm 1981, tại tỉnh Bình Thuận;

Nơi thường trú: thôn B, xã C, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận

Chỗ ở: thôn D, xã C, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không;

Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: làm nông;

Con ông Nguyễn Minh E, sinh năm 1958;

Con bà Nguyễn Thị F, sinh năm 1957

Cùng trú tại: thôn B, xã C, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Anh chị em ruột: có 07 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;

Vợ: Nguyễn Thị Kim G, sinh năm 1983 (chưa đăng ký kết hôn);

Trú tại: khu phố 14, phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận;

Con: có 02 người lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2008;

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: không.

Bị cáo Nguyễn Minh A hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Bị hại: ông Nguyễn Chí H, sinh năm: 1975 (Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn D, xã C, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/12/2023, một người đàn ông tên Minh (không rõ nhân thân, là bạn quen ngoài xã hội) rủ Nguyễn Minh A (sinh năm 1981, trú tại thôn D, xã C, thành phố Phan Thiết) tìm kiếm đất trồng cây keo lá tràm trên địa bàn xã Thiện Nghiệp để cưa trộm gỗ bán lấy tiền tiêu xài A đồng ý. A dẫn Minh đến 02 mảnh đất trồng cây keo lá tràm tại thôn D, xã C, thành phố Phan Thiết thuộc sở hữu của ông Nguyễn Chí H (sinh năm 1975, trú tại thôn D, xã C, thành phố Phan Thiết) rồi chỉ cho Minh để cưa trộm gỗ cây Keo lá tràm. Đến ngày 02/12/2023, Minh đi đến chòi của A tại thôn D, xã C, thành phố Phan Thiết rồi cả 02 sử dụng máy cưa xích cầm tay nhãn hiệu STIHL MS250 của A để cưa trộm tổng cộng 45 gốc cây keo lá tràm trên 02 mảnh đất của ông H từ ngày 02/12/2023 đến ngày 04/12/2023. Minh là người trực tiếp sử dụng cưa máy cưa cây, A thu gom các thân cây bị cưa hạ xếp lại để mang đi bán. Đến tối ngày 04/12/2023, Minh đến chòi thông báo cho A đã bán được 01 xe gỗ cây keo lá tràm với giá 2.000.000 đồng nhưng khách mua chưa chở cây đi (hẹn gom lại đầy đủ mới chở một lần). Sau đó, Minh chia cho A 1.000.000 đồng rồi Minh đi về. Số tiền này A đã tiêu xài cá nhân hết.

Đến 15 giờ 45 phút ngày 05/12/2023, ông Nguyễn Chí H đi đến 02 mảnh đất trên thì phát hiện các cây keo lá tràm đã bị cưa hạ nên ông đến Công an xã C trình báo sự việc. Qua xác minh, Công an xã C đã mời Nguyễn Minh A về trụ sở làm việc. Tại đây A thừa nhận hành vi cùng với Minh cưa trộm 45 gốc cây keo lá tràm trên 02 mảnh đất của ông H từ ngày 02/12/2023 đến ngày 04/12/2023 như nêu trên.

Vật chứng của vụ án:

  • Thu giữ từ Nguyễn Minh A: 01 chiếc máy cưa xích cầm tay, thân máy có màu cam, trên thân máy có dòng chữ STIHL MS250, máy đã qua sử dụng.
  • Thu giữ từ ông Nguyễn Chí H: 142 khúc gỗ thu giữ trên khu đất của ông tại thôn D, xã C, thành phố Phan Thiết, được thống kê đánh số bằng sơn màu trắng ở đầu mỗi khúc gỗ từ số 01 đến số 142.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 74/KL- HĐĐGTS ngày 23/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phan Thiết, kết luận:

  • 134 lóng gỗ Keo lá tràm; khối lượng 4,714 m³ tại thời điểm định giá ngày 04/12/2023 có giá trị tài sản là 6.202.620 đồng.
  • 08 lóng củi; trọng lượng 0,439 m³, được quy đổi thành 0,624 ster, tại thời điểm định giá ngày 04/12/2023 có giá trị tài sản là 168.480 đồng.

Tổng cộng giá trị tài sản là 6.371.100 đồng.

Xử lý vật chứng và dân sự:

Đối với 01 chiếc máy cưa xích cầm tay, thân máy có màu cam, trên thân máy có dòng chữ STIHL MS250, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản, chờ xử lý.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Thiết đã trả lại 142 lóng gỗ keo lá tràm được đánh số từ 01 đến 142 cho ông Nguyễn Chí H, ông H đã nhận lại tài sản và yêu cầu Nguyễn Minh A bồi hoàn số tiền 4.000.000 đồng H thuê xe, người chở số gỗ trên về nhà. Hiện A đã bồi thường cho ông H và được ông H bãi nại.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, theo Cáo trạng số: 148/CT/VKS-PT, ngày 01/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Minh A phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, khoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh A từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Về tang vật chứng: đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị hại: ông Nguyễn Chí H có đơn xin xét xử vắng mặt, đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về dân sự, về hình sự đã có đơn xin bãi nại và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không tranh luận, nói lời sau cùng cám ơn HĐXX.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân dân thành phố Phan Thiết: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Minh A đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 148/CT/VKS-PT, ngày 01/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố. Bị cáo khẳng định những lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện đúng sự thật, bị cáo không bị bức cung và Cáo trạng truy tố là đúng, không oan cho bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại cũng như các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận, đây là vụ án: “Trộm cắp tài sản” do Nguyễn Minh A thực hiện từ ngày 02/12/2023 đến ngày 04/12/2023, tại 02 mảnh đất trồng cây keo lá tràm của ông Nguyễn Chí H tại thôn D, xã C, thành phố Phan Thiết, Nguyễn Minh A và người đàn ông tên Minh (không rõ nhân thân) đã có hành vi lén lút sử dụng máy cưa xích cầm tay cưa trộm 45 gốc cây keo lá tràm, thu được 142 lóng gỗ keo lá tràm trị giá 6.371.100 đồng thì bị phát hiện, thu giữ.

Vì vậy, Cáo trạng số:148/CT/VKS-PT, ngày: 01/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Nguyễn Minh A về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Nguyễn Minh A là công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã phạm tội trộm cắp tài sản là 45 gốc cây keo lá tràm, thu được 142 lóng gỗ keo lá tràm trị giá 6.371.100 đồng, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác và gây mất trật tự trị an tại địa phương do đó cần xử lý bằng biện pháp hình sự để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo A không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, tài sản đã được thu hồi trả lại ngay cho bị hại, ngay khi nhận Cáo trạng bị cáo đã bồi thường số tiền 4.000.000 đồng cho bị hại và được bị hại có đơn xin bãi nại nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định nên đủ điều kiện cho hưởng án treo theo Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP, ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo tự cải tạo bản thân dưới sự giám sát của chính quyền và gia đình cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự HĐXX sẽ xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[5] Về ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết:

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết về việc áp dụng pháp luật, mức hình phạt là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phan Thiết đã xử lý vật chứng đã trả lại 142 lóng gỗ keo lá tràm được đánh số từ 01 đến 142 cho ông Nguyễn Chí H, ông H đã nhận lại tài sản và Nguyễn Minh A đã bồi hoàn theo yêu cầu số tiền 4.000.000 đồng cho ông H thuê người, xe chở số gỗ trên về nhà.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với 01 chiếc máy cưa xích cầm tay, thân máy có màu cam, trên thân máy có dòng chữ STIHL MS250 là công cụ bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội.

[7] Đối với người đàn ông tên Minh (không rõ nhân thân) đã có hành vi cùng A cưa trộm cây keo lá tràm của ông Dũng, do không xác định được nhân thân nên không có cơ sở để xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Minh A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 50, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Minh A 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách: 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 30/8/2024.

Giao bị cáo Nguyễn Minh A cho Ủy ban nhân dân xã C, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo pA chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với 01 chiếc máy cưa xích cầm tay, thân máy có màu cam, trên thân máy có dòng chữ STIHL MS250 là công cụ bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng tài sản số 164, ngày: 22/8/2024, giữa Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Phan Thiết và Công an thành phố Phan Thiết).

[3]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Minh A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo Nguyễn Minh A, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/8/2024). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND TP. Phan Thiết;
  • - Công an TP. Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS TP. Phan Thiết;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Bích Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 181/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Minh Hải phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger