|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 181/2024/HS-ST Ngày: 29 - 10 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Thái Thị Hồng Vân
Thẩm phán: Bà Trần Thị Mỹ Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Huy Viện
Ông Trần Văn Mão
Bà Hoàng Thị Hường
- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thanh Tâm - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 149/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 205/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Hà Văn Đ;
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 26/4/1992 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Con ông: Hà Văn Đ1, Sinh năm 1972 và bà Lộc Thị B, sinh năm 1972; Anh chị em ruột: 2 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Lang Thị N, (Đã chết); Con: có 01 người con, sinh năm 2009.
Nhân thân:
- + Ngày 26/11/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- + Ngày 24/9/2014, Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 53/2014/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 03/4/2015.
- + Ngày 11/5/2018, Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 11/11/2019.
Tiền án: Ngày 14/7/2020, Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 34/2014/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2022.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/9/2023 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lộc Thị B, sinh năm 1972; địa chỉ: Thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn Đ:
- + Bà Đặng Thị Thanh H, Luật sư - Văn phòng L1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh N. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2020, trong quá trình chấp hành án phạt tù tại Trại giam X - Bộ C, Hà Văn Đ quen biết Nguyễn Văn K, trú tại thị xã H, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi chấp hành án về địa phương, Hà Văn Đ và K liên lạc với nhau. Cuối tháng 8/2023, Nguyễn Văn K sử dụng số điện thoại 0355.464.xxx gọi đến số 0911183717 của Hà Văn Đ hỏi mua 30 (Ba mươi) gói ma túy hồng phiến, hai bên thống nhất giá 30 (Ba mươi) gói ma túy hồng phiến là 80.000.000 (Tám mươi triệu) đồng, Nguyễn Văn K chuyển khoản số tiền 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu) đồng đến số tài khoản 08838233676868 ngân hàng M2 mang tên Hà Văn Đ, số còn lại K hẹn khi nào nhận được ma túy sẽ trả. Sau đó, Hà Văn Đ sử dụng số điện thoại 0963.482.xxx gọi điện đến số 0383.598.844 của người đàn ông tên V (Không rõ tên, tuổi) trú tại bản Mường Lống, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An hỏi mua 90 (Chín mươi) gói ma túy hồng phiến với giá 92.000.000 (Chín mươi hai triệu) đồng. Sáng ngày 10/9/2023, người đàn ông tên V gọi điện thoại hẹn Đ đến lán của V tại bản Mường Lống, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An để nhận ma túy. Hà Văn Đ điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha, Sirius Biển kiểm soát 37B3-130.02 đi đến địa điểm mà Vừ hướng dẫn. Tại đây, V đưa cho Hà Văn Đ 03 (Ba) khối hình chữ nhật bên trong mỗi khối có 30 (Ba mươi) gói ma túy hồng phiến (Tổng 90 gói), Đ đưa cho V số tiền 92.000.000 (Chín mươi hai triệu) đồng; sau đó Đ lấy 02 (Hai) khối hình chữ nhật bên trong chứa ma túy hồng phiến cho vào túi da màu đen và 01 (Một) khối hình chữ nhật bên trong chứa ma túy hồng phiến cho vào túi vải màu đen. Khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, Hà Văn Đ để số ma túy trên vào giá đỡ xe máy nhãn hiệu Yamaha, Sirius Biển kiểm soát 37B3-130.02 điều khiển về nhà mục đích bán cho Nguyễn Văn K 30 (Ba mươi) gói ma túy hồng phiến, số còn lại cất giấu tại chỗ ở khi có người hỏi mua sẽ bán kiếm lời. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 11/9/2023, khi Hà Văn Đ đi đến khu vực bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.
Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 11/9/2023 xác định: 90 (Chín mươi) mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Hà Văn Đ có tổng khối lượng 1.825,31 gam.
Kết luận giám định số 929/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 29/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N, kết luận:
- - 90 (Chín mươi) mẫu viên nén màu hồng (Ký hiệu M1 đến M30; từ N1 đến N30; từ P1 đến P30 thu giữ của Hà Văn Đ gửi đến giám định đều là ma túy; loại Methamphetamine.
- - Số viên nén màu hồng thu giữ của Hà Văn Đ có tổng khối lượng 1.825,31 gam".
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng thu giữ: 01 (Một) hộp cát tông bên trong 1.825,31 gam ma túy (Methamphetamine) đã lấy 180 gam làm mẫu vật giám định còn lại 1645,31 gam ma túy (Methamphetamine); 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1110i, màu trắng đen, số Imeil 352055/02/051930/0 đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu T-Long, màu xanh, số Imeil 355230215047758 đã qua sử dụng; 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 37B3-130.02 đã qua sử dụng; 01 túi vải màu đen, 01 túi da màu đen đã qua sử dụng. Hiện số vật chứng hiện đang bảo quản theo đúng quy định của pháp luật.
Đối với xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 37B3-130.02, đăng ký xe mang tên Vi Văn H1, sinh năm 1988, trú tại khối Đ, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vi Văn H1 đã bán xe máy trên cho Trương Hữu D, sinh năm 1984, trú tại xóm T, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Trương Hữu D bán lại cho bà Lộc Thị B, sinh năm 1972, trú tại khối B, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An (Là mẹ của Hà Văn Đ). Bà Lộc Thị B không biết việc Hà Văn Đ sử dụng xe máy trên để thực hiện hành vi phạm tội.
Bản cáo trạng số 181/CT-VKS-P1 ngày 18 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Hà Văn Đ về tội “Tội mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 4 điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 39, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Văn Đ tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 11/9/2023.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy và 01 túi vải màu đen, 01 túi da màu đen. Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước : 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1110i, màu trắng đen, số Imeil 352055/02/051930/0 đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu T-Long, màu xanh, số Imeil 355230215047758 đã qua sử dụng.
Trả lại 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 37B3-130.02 đã qua sử dụng cho bà Lộc Thị B.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Luật sư bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo là người dân tộc thiểu số, hạn chế về nhận thức, vợ đã chết, có một con gái còn nhỏ tuổi; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo có ông ngoại là Lộc Văn T được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án tù có thời hạn.
Bị cáo nhất trí như lời bào chữa của luật sư đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, luật sư, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng qui định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ khẳng định: Vào ngày 10/9/2023, Hà Văn Đ mua của một người đàn ông tên V (Không rõ lai lịch, địa chỉ) 90 (Chín mươi) gói ma túy hồng phiến có khối lượng 1.825,31 gam ma túy (Methamphetamine) với giá 92.000.000 (Chín mươi hai triệu) đồng mục đích bán lại kiếm lời. Đến khoảng 00 h 30 phút ngày 11/9/2023, khi Hà Văn Đ mang theo số ma túy trên đi đến bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An phát hiện, bắt quả tang. Hà Văn Đ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép 1.825,31 gam ma túy (Methamphetamine)
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Hà Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét các tình tiết tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị kết án chưa được xoá án tích lại phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Ông Lộc Văn T (Ông ngoại bị cáo) được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì; đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét trong quá trình quyết định hình phạt đối với các bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[4] Về tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an ninh xã hội, nguyên nhân sâu xa làm phát sinh các tội phạm khác mà còn làm suy thoái giống nòi, phá hoại hạnh phúc và kinh tế gia đình, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện. Bị cáo đã từng bị xét xử về tội ma tuý, chưa được xoá án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà vẫn phạm tội nhằm mục đích vụ lợi. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội vô thời hạn thể hiện sự nghiêm khắc của pháp luật đồng thời có tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản gì có giá trị, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
[6] Về vật chứng:
- + Ma túy là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy: 1645,31 gam ma túy (Methamphetamine) và 01 túi vải màu đen, 01 túi da màu đen đã qua sử dụng.
- + Đối với hai chiếc điện thoại: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1110i, màu trắng đen, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu T-L, màu xanh, là công cụ phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- + Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 37B3-130.02 đã qua sử dụng thu giữ của Hà Văn Đ, là phương tiện phạm tội. Tuy nhiên, chiếc xe do bị cáo mượn của bà Lộc Thị B, bà B không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy, nên cần trả lại cho bà Lộc Thị B.
[7] Theo lời khai vủa Hà Văn Đ, vào khoảng tháng 8/2023 Đ đã mua của người đàn ông tên V 60 (Sáu mươi) gói ma túy hồng phiến giá 61.000.000 (Sáu mươi mốt triệu) đồng bán cho Nguyễn Văn K với giá 160.000.000 (Một trăm sáu mươi triệu) đồng. Tuy nhiên, chỉ có duy nhất lời khai của Hà Văn Đ, Nguyễn Văn K không thừa nhận, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh việc mua bán ma túy nói trên do đó không đủ căn cứ để kết luận về hành vi này đối với Hà Văn Đ.
Đối với người đàn ông tên V đặt mua ma túy, Đ (Không biết tên tuổi địa chỉ), Đ khai đã sử dụng số điện thoại 0963.482.xxx gọi điện đến số 0383.598.844 (Đoán đăng ký chính chủ) để liên lạc đặt mua ma túy. Cơ quan điều tra đã xác minh số điện thoại 0383.598.xxx đăng ký chủ thuê bao là Hoàng Thị M, sinh năm 1998, trú tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hoàng Thị M khai từ trước đến nay không sử dụng số điện thoại nêu trên và cũng không cho ai mượn giấy tờ tùy thân để đăng ký các số điện thoại trên và không quen biết ai là Hà Văn Đ. Do đó, không có căn cứ để xác minh làm rõ, xử lý trong vụ án.
Đối với Nguyễn Văn K, Đ khai K sử dụng số điện thoại 0355.464.xxx gọi điện đến số 0911183717 của Đ để 02 lần đặt mua ma túy (Lần thứ nhất 60 (Sáu mươi) gói ma túy hồng phiến giá 160.000.000 (Một trăm sáu mươi triệu) đồng, lần thứ hai 30 (Ba mươi) gói ma túy hồng phiến với giá 80.000.000 (Tám mươi triệu) đồng. Nguyễn Văn K nhiều lần chuyển khoản đến số tài khoản 08838233676868 ngân hàng M2 mang tên Hà Văn Đ. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an tỉnh N tiến hành xác minh số điện thoại 0355.464.xxx đăng ký chủ thuê bao Nguyễn Thị Hồng M1, sinh năm 1976, trú tại phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh; số điện thoại 0911.183.xxx đăng ký chủ thuê bao Đậu Thị Thanh H2, sinh năm 1976, trú tại phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An (sử dụng trước ngày 03/8/2023) và đăng ký chủ thuê bao Hà Văn Đ1, sinh năm 1972, trú tại bản Ná Công, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An (Sử dụng từ ngày 03/8/2023 đến nay). Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại địa phương, Nguyễn Thị Hồng M1 hiện đã chết; trên địa bàn phường H không có công dân Đậu Thị Thanh H2 cư trú; Hà Văn Đ1 là bố đẻ Hà Văn Đ hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Đ2, tỉnh Quảng Bình. Tiến hành lấy lời khai Nguyễn Văn K hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H khởi tố, nhưng K không thừa nhận việc đã đặt mua ma túy của Hà Văn Đ như Đ khai. Các giao dịch liên quan đến việc Đ và K chuyển khoản là tiền K trả nợ Đ và tiền Đ nhờ K chuyển vào tài khoản ngân hàng của Đ. Do đó, không đủ căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn K trong vụ án
[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm b khoản 4 điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Hà Văn Đ tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Thời hạn tù tính từ ngày 09/11/2023.
Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự;
- + Tịch thu tiêu huỷ: 1645,31 gam ma túy (Methamphetamine) và 01 túi vải màu đen, 01 túi da màu đen đã qua sử dụng.
- + Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1110i, màu trắng đen, và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu T-L, màu xanh,
- + Trả cho bà Lộc Thị B 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 37B3-130.02 đã qua sử dụng
Chi tiết đặc điểm có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 9 năm 2024, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Hà Văn Đ phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Hà Văn Đ, bà Lộc Thị B có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hồng Vân |
Bản án số 181/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự (tội mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 181/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt: Bị cáo Hà Văn Đ tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
