Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2024/HS-ST

Ngày 17/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Xuân Xế, bà Đặng Thị Thập.

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hạ Gia Thuận- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2024 tại điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 182/2024/TLST-HS ngày 02/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2024/QĐXXST-HS ngày 04/10/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh năm 1997; Nơi cư trú: K, thị trấn B, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1973 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1977; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: chưa có.
    • - Tiền án: Không.
    • - Tiền sự: Tại quyết định số 02 ngày 17/7/2023 của Ủy ban nhân dân thị trấn B quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại thị trấn về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” trong thời hạn 3 tháng. Ngày 19/10/2023, D chấp hành xong quyết định.
    • - Nhân thân: Ngày 20/6/2023, D bị Công an thị trấn B xử phạt hành chính, hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
    • - Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
  2. Họ và tên: Nguyễn Quốc V, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Số A, V, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1958; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: chưa có;
    • Tiền án: Tại Bản án số 17/HSST, ngày 10/3/2021 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt V 18 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngày 18/01/2023, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.
    • Tiền sự: Không.
    • Nhân thân:
      • + Tại Bản án số 20/HSST, ngày 21/10/2008 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt V 24 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
      • + Tại Bản án số 144/HSST, ngày 20/6/2014 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt V 34 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
    • Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

Người tham gia tố tụng khác:

  1. Cán bộ Tin học Tòa án nhân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Cán bộ Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

(Đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 21/6/2024, Nguyễn Văn D mua ma túy Heroine với giá 50.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, tại thôn N, xã L, huyện Y, D gặp Nguyễn Quốc V, V hỏi D: “Có ma túy heroine không, bán cho tôi 100.000 đồng”. Thấy V hỏi mua ma túy nên D bán lại số ma túy vừa mua được để kiếm lời. V đưa cho D số tiền 100.000 đồng, D cầm tiền và đưa lại cho V 01 gói ma túy heroine vừa mua được lúc trước. Đúng lúc này, lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang và tiến hành thu giữ:

  • - Tại lòng bàn tay phải của V 01 túi nilong màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng. V khai nhận đây là ma tuý heroine V vừa mua được của D.
  • - Tại lòng bàn tay phải của D số tiền 100.000 đồng (D khai nhận đây là số tiền bán ma túy cho V mà có)

Tại Kết luận giám định số 1526/KL-KTHS ngày 23/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) gói giấy bạc màu trắng (được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M) có khối lượng là 0,1151 gam; Là ma túy; Loại ma túy Heroine (Heroin);

Heroine (Heroine) có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”.

Tại Bản Cáo trạng số 183/CT-VKS-YP ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Quốc V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong truy tố là đúng người, đúng tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã giữ nguyên bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • -Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • -Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Văn D từ 28 tháng tù đến 32 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/6/2024.
  • Áp dụng khoản điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Quốc V từ 20 tháng tù đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/6/2024.
  • Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Nguyễn Văn D, sinh năm 1977; HKTT: Khối 11, TT B, K, Ninh Bình mua bán trái phép chất ma túy ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; 02 phong bì niêm phong dán kín bên trong có que thử nước tiểu.
    • Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng.
    • Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo D, bị cáo V.

Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 21/6/2024, tại thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Công an huyện Y phối hợp với Công an xã L kiểm tra và bắt quả tang Nguyễn Văn D bán trái phép 0,1151 gam ma túy Heroine cho Nguyễn Quốc V với giá 100.000 đồng nhằm mục đích kiếm lời. V mua ma túy với mục đích để sử dụng.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo D mua chất ma túy, bán trái phép cho bị cáo V để kiếm lời đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo V mua chất ma túy để sử dụng cho bản thân đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Ngoài ra ma túy là chất gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Bản thân các bị cáo cũng hiểu biết về tác hại của ma túy cũng như những quy định của pháp luật nghiêm cấm đối với tất cả các hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vẫn vi phạm, vì vậy cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Đối với bị cáo D: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bị cáo D có 01 tiền sự: Tại quyết định số 02 ngày 17/7/2023 của Ủy ban nhân dân thị trấn B áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại thị trấn trong thời hạn 3 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 19/10/2023, D chấp hành xong quyết định. Bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục mua bán trái phép chất ma túy.

Đối với bị cáo V: Tại Bản án số 20/HSST ngày 21/10/2008 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt V 24 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án, đã được xóa án tích. Tại Bản án số 144/HSST ngày 20/6/2014 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt V 34 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án, đã được xóa án tích.

Tại Bản án số 17/HSST ngày 10/3/2022 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt V 18 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngày 18/01/2023, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Bản án trên bị cáo chưa được xóa án tích, bị cáo phạm tội mới do cố ý nên bị cáo đều phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung trong nhân dân như phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Nguyễn Văn D, sinh năm 1977; HKTT: Khối 11, TT B, K, Ninh Bình mua bán trái phép chất ma túy ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; 02 phong bì niêm phong dán kín bên trong có que thử nước tiểu là những vật liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • + Đối với số tiền 100.000 đồng do D bán ma túy cho V, đây là số tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
  • Lưu hồ sơ 02 đĩa DVD ghi âm về việc hỏi cung bị cáo D, bị cáo V.

[3] Những vấn đề khác:

Trong vụ án này, người đàn ông đã bán ma túy cho D nhưng D không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Công an tiến hành kiểm tra nhanh ma túy đối với bị cáo, kết quả xác định các bị cáo dương tính với ma túy. Do các bị cáo không nhớ địa điểm sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra chưa xử lý. Khi nào làm rõ thời gian, địa điểm sử dụng ma túy sẽ xử lý sau.

[4] Về án phí: Bị cáo D và bị cáo V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  2. Về hình phạt:
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn D 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/6/2024.
    • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V 22 (hai mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/6/2024.
    • - Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn D 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
    • Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Quốc V 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Nguyễn Văn D, sinh năm 1977; HKTT: Khối 11, TT B, K, Ninh Bình mua bán trái phép chất ma túy ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; 02 phong bì niêm phong dán kín bên trong có que thử nước tiểu.
    • + Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong. Theo biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản ngày 03/7/2024 tại Kho bạc Nhà nước huyện Y).

    Lưu hồ sơ 02 đĩa DVD ghi âm về việc hỏi cung bị cáo D, bị cáo V.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo D và bị cáo V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
  6. Báo cho các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh
  • -VKSND huyện Yên Phong;
  • -Công an huyện Yên Phong;
  • -Trại tạm giam CA tỉnh
  • -Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • -Những người TGTT;
  • -Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2024/HS-ST ngày 17/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 181/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Quốc Việt - MBMT, TTMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger