TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 181/2024/HS-PT Ngày: 27-9-2024. | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Đại Long.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Trường Du và bà Lê Thị Tố Như
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Bà Cù Thị Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 246/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 235/2024/QĐXXPT-HS ngày 13/9/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 120/2024/HSPT-QĐ ngày 25/9/2024 đối với:
* Bị cáo: Mai Kỳ C, sinh ngày 08/5/1995; tại xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số [...]; cấp ngày; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự; nơi cư trú: Thôn Y, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Kỳ Đ, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị T (đã chết); vợ: Mai Thị T1 (đã ly hôn), có 01 con: sinh năm 2020; Tiền án; tiền sự: không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại kháng cáo: Anh Nguyễn Hải T2 - Sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn E, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Hải T2:
Chị Phạm Thị Thanh B, sinh năm 1999 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn Y, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ, ngày 09/11/2023, tại Quán ăn S trên đường T, thuộc tiểu khu H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Mai Phi H, Nguyễn Hải T2 và Hoàng Thế T3 ngồi uống bia với nhau. Bàn ăn của H đặt trên vỉa hè, phía Đông của đường T, gần cột đèn tín hiệu giao thông cầu H. Đến khoảng 18 giờ 30 phút, M Kỳ Công điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29L-3786 đi từ chợ huyện N về hướng cầu H. Khi đi quan vị trí của H ngồi cùng T2, T3 thì C nghe tiếng gọi vọng ra đường. Nghĩ rằng có người gọi mình nên C quay xe lại đi đến gần chỗ Hoàng ngồi, Công dựng xe khoảng cách 2m và đi về phía H. Thấy C đi đến, H quay ra hỏi xem có việc gì thì C cho rằng trước đó H đã gọi C để trêu. Do đã uống bia nên H không giải thích mà to tiếng thách thức với C. Sau đó, giữa C và H xảy ra cãi nhau rồi lao vào giằng co, đánh nhau bằng tay chân. T2 và T3 vào can ngăn C và H. Được một lúc, C bỏ chạy bộ theo đường Từ Thức về phía cầu H (phía bắc), H chạy đuổi theo C, còn T2 chạy theo H. Khi H chạy đến giữa cầu H, thấy C đã chạy qua cầu nên H dừng lại, cùng T2 quay lại bàn ăn tiếp tục ăn uống, còn T3 điều khiển xe mô tô đi đón bạn là Trương Tấn H1 đến ăn uống cùng.
Sau 15 phút, khi H, T2, T3 và H1 đang ngồi ăn tại bàn ăn thì H thấy C đi từ phía cầu H đến, trên tay phải cầm 01 con dao phay tổng chiều dài 40cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen, cán dao bằng gỗ tròn, màu nâu. Khi gần đến chỗ H ngồi, C dùng tay trái vơ một nắm đất dưới mặt đường ném về phía H, đồng thời tay phải cầm dao chém về phía H, H quay người bỏ chạy. C chạy đuổi theo một đoạn khảng 5-6m rồi dơ dao chém trúng phía sau bả vai phải của H, gây vết thương hở dài 10cm, làm rách da, gân, cơ và mẻ xương bả vai phải. H bỏ chạy, C đuổi theo H nhưng không được nên C quay lại thì nhìn thấy T2 ở phía sau. Lúc này, mục đích của T2 là chạy đến can ngăn nhưng C cho rằng T2 cũng muốn đánh mình nên dơ dao chém về phía T2. T2 hoảng sợ, bỏ chạy ngược về phía Tây ra đường Từ Thức nhưng khi chạy ra giữa đường thì bị trượt ngã. C chạy tới cầm dao chém xuống người T2, T2 dơ chân trái lên chống đỡ thì bị dao sượt vào phía sau cẳng chân gây vết thương hở phần mềm (rách da), kích thước 6 x 0,3)cm. C tiếp tục chém nhát thứ hai xuống thì T2 lăn người để tránh nên dao sượt vào bụng của T2 gây vết thương hở phần mềm (rách da), kích thước (7 x 0,3)cm. Khi C chém nhát thứ 3 xuống, T2 dơ tay phải lên dỡ thì bị chém trúng, dứt rời bàn tay phải (rơi xuống đất). Thấy vậy, C không chém nữa mà cầm dao đi bộ về phía cầu H, đi đến cánh đồng thuộc thôn Y, xã N dấu con dao. Do lo sợ bị xử lý nên C bỏ trốn khởi địa phương.
Sau khi C bỏ đi, T3, H1 và một số người dân đã hỗ trợ cầm máu vết thương và đưa T2 và H đến bệnh viện đa khoa huyện N để sơ cứu. Sau đó, H được chuyển đến bệnh viện đa khoa tỉnh T điều trị, đến ngày 13/11/2023 thì xuất viện, còn T2 được chuyển đến Bệnh viện Đ1 và Bệnh viện Đ điều trị đến ngày 24/11/2023 thì xuất viện.
Ngày 05/12/2023, C tự nguyện đến Công an huyện N đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp con dao C đã dùng chém H và T2.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N ra Quyết định trưng cầu giám định số 72/QĐ-TCGĐ và 73/QĐ-TCGĐ, ngày 13/11/2023, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh T giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Mai Phi H và Nguyễn Thanh H2 đối với thương tích do Mai Kỳ C gây nên.
- Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, số 1987/KLTTCT-PYTH ngày 08/12/2023 của Trung tâm Pháp y Sở y tế tỉnh T đối với thương tích của anh Mai Phi H, đã kết luận:
+ Sẹo vết thương phần mềm vùng dọc bờ sau ngoài vai phải, kích thước sẹo trung bình: 02%
+ Chấn thương, vết thương giữa bả vai phải mẻ xương bả vai phải: 01%.
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Mai Phi H tại thời điểm giám định là 03% (ba phần trăm)
- Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, số 2034/KLTTCT-PYTH ngày 29/12/2023 của Trung tâm Pháp y Sở y tế tỉnh T đối với thương tích của anh Nguyễn Thanh H2, kết luận:
+ Vết thương đứt lìa cổ tay phải đã được điều trị; hiện tại còn di chứng tổn thương thần kinh trụ, thần kinh giữa và thần kinh quay ngang cổ tay phải trở xuống; hình ảnh xuyên đinh ở xác xương bàn tay (II, III, IV, V), xương đốt I ngón V và các xương ở cổ tay (xương thuyền, nguyệt, thang, thê, cả, móc) tay phải; hình ảnh xương vỡ ở vị trí xương thang tay phải: 49%.
+ Sẹo vết thương và sẹo mổ xử lý vết thương vùng cổ tay- bàn tay- mặt trước 1/3 dưới cẳng tay phải; kích thước sẹo trung bình: 02%.
+ Sẹo vết thương vùng mặt sau 1/3 dưới cẳng chân trái; kích thước sẹo nhỏ: 01%.
+ Sẹo vết thương phần mềm vùng thành bụng trái; kích thước sẹo nhỏ: 01%
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Hải T2 tại thời điểm giám định: 51% (Năm mươi mốt phần trăm)
Sau khi có kết luận giám định, Cơ quan CSĐT đã thông báo cho Mai Kỳ C, Mai Phi H, Nguyễn Thanh H2 biết. mai Kỳ C và Nguyễn Hải T2 không có ý kiến gì. Ngày 24/12/2023, Mai Phi H có đơn đề nghị không yêu cầu khởi tố vụ án, không xử lý hình sự đối với Mai Kỳ C.
Đối với Mai Kỳ C đã từng điều trị tại Bệnh viện T năm 2021. Ngày 02/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trưng cầu Viện pháp y tâm thần Trung ương giám định tâm thần đối với Mai Kỳ C tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (ngày 09/11/2023) và thời điểm hiện tại.
Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 125/KLGĐ ngày 16/5/2024 của V, kết luận: Trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định Mai Kỳ C không bị bệnh tâm thần, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Về trách nhiệm dân sự: Mai Thanh H3 yêu cầu Mai Kỳ C bồi thường các khoản, gồm: chi phí điều trị 100.000.000đ; chi phí đi lại 4.000.000đ; tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ 20.000.000đ; tiền mất thu nhập 36.000.000đ; tiền tổn thất tinh thần 20.000.000₫ và tiền mất thu nhập của người chăm sóc 20.000.000đ; tổng cộng là 200.000.000đ, trừ số tiền gia đình Công đã tác động gia đình bồi thường 50.000.000đ, T2 yêu cầu Mai K tiếp tục bồi thường 150.000.000₫.
Về thu giữ và xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAYTHAI, biển kiểm soát 29L7-3786 do Cơ quan Công an thu giữ tại hiện trường ngày 09/11/2024, không phải là công cụ phạm tội; kết quả điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Mai Kỳ Đ cho M Kỳ Công mượn làm phương tiện đi lại nên ngày 06/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại xe mô tô cho ông Đ là có căn cứ.
Đối với con dao phay, tổng chiều dài 40cm; lưỡi dao bằng kim loại màu đen, dài 26,5cm, vị trí rộng nhất 06 cm; cán dao bằng gỗ tròn, màu nâu dài 13,5cm là công cụ M Kỳ Công sử dụng vào việc phạm tội, hiện cơ quan CSĐT Công an huyện N đang tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 29/7/2024, Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
* Tuyên bố: Bị cáo M Kỳ Công phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
* Xử phạt: Bị cáo M Kỳ Công 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
* Trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền, gồm:
- - Chi phí đi lại trong quá trình điều trị là 4.000.000đ.
- - Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho bị là 10.000.000₫.
- - Tiền mất thu nhập thực tế của bị hại là 36.000.000₫
- - Tiền tổn thất tinh thần 20.000.000₫
- - Tiền mất thu nhập thực tế của người chăm sóc 3.200.000₫
Tổng cộng là 73.200.000đ, trừ đi số tiền bị cáo bồi thường là 50.000.000đ, bị cáo còn phải bồi thường số tiền 23.200.000₫ (Hai ba triệu hai trăm nghìn đồng).
Đối với số tiền 100.000.000đ cho chi phí điều trị, dành quyền cho bị hại để khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác (khi có đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh và yêu cầu).
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn Quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 07/8/2024 (trong hạn luật định) bị hại có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét cho thêm các khoản tiền có hóa đơn và yêu cầu bồi thường thêm là 65.000.000đ. Tại phiên tòa phúc thẩm bị hại vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị cáo và bị hại thống nhất thỏa thuận bị cáo tự nguyện sẽ tiếp tục bồi thường thêm 65.000.000đ cho bị hại.
Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đề nghị HĐXX căn cứ vào Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 300 BLTTDS.
Chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Hải T2 về yêu cầu tăng bồi thường dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa về trách nhiệm dân sự và án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.
Lời nói sau cùng: Không có tranh luận, không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Xét về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị hại trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên được coi là hợp pháp. Do vậy, HĐXX chấp nhận đơn của bị hại để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội, phù hợp lời khai của bị hại, kết luận giám định thương tích và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cụ thể: Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 09/11/2023 Mai Kỳ C đã dùng 01 con dao phay, tổng chiều dài 40 cm đuổi đánh anh H. Anh Nguyễn Hải T2 là bạn của H đến can ngăn thì bị C dùng dao chém 03 nhát làm anh T2 bị rách da mặt sau cẳng chân trái, rách da thành bụng và đứt dời bàn tay phải, gây tỷ lệ thương tổn cơ thể 51%.
Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS.
[3] Về tính chất vụ án: Vụ án thuộc tội phạm rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội rất lớn, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe cho anh T2. Vì vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục, đồng thời phòng ngừa chung. Cấp sơ thẩm đã xác định tội danh và khung hình phạt cho bị cáo là có cơ sở pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị hại:
Tại cấp sơ thẩm đã quyết định Trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền, gồm:
- - Chi phí đi lại trong quá trình điều trị là 4.000.000₫.
- - Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho bị là 10.000.000₫.
- - Tiền mất thu nhập thực tế của bị hại là 36.000.000₫
- - Tiền tổn thất tinh thần 20.000.000₫
- - Tiền mất thu nhập thực tế của người chăm sóc 3.200.000₫
Tổng cộng là 73.200.000đ, trừ đi số tiền bị cáo bồi thường là 50.000.000đ, bị cáo còn phải bồi thường số tiền 23.200.000₫ (Hai ba triệu hai trăm nghìn đồng).
Tại cấp phúc thẩm bị hại cung cấp thêm các chứng cứ đều có hóa đơn kèm theo cụ thể:
- Tiền phẫu nối bàn tay phải: 43.613.000₫
- Tiền phẫu thuật rút đinh: 4.728.000₫
- Tiền thuốc: 11.773.000₫
- Viện phí BVĐK huyện N: 3.500.000₫
- Tiền chụp X quang, khám tổng quát 2.133.000₫
Chỉ yêu cầu bồi thường tổng số tiền là: 65.000.000₫
Bị cáo M Kỳ Công tự nguyện tiếp tục bồi thường số tiền 65.000.000đ cho bị hại, theo yêu cầu của bị hại.
HĐXX xét thấy tại cấp phúc thẩm bị hại cung cấp các tài liệu chứng cứ về bồi thường là phù hợp, ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về số tiền bồi thường tiếp là 65.000.000đ nên chấp nhận buộc bị cáo phải bồi thường thêm số tiền 65.000.000 cho bị hại là có căn cứ theo quy định của pháp luật. Nên buộc bị cáo M Kỳ Công phải bồi thường số tiền 73.200.000đ theo bản án sơ thẩm và 65.000.000₫ phúc thẩm, tổng số tiền là 138.200.000đ, trừ đi số tiền bị cáo bồi thường là 50.000.000đ, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 88.200.000₫ (Tám mươi tám hai trăm nghìn đồng) cho bị hại Nguyễn Hải T2.
Do vậy, kháng cáo của bị hại là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là áp dụng điểm b, khoản 1, khoản 2 Điều 355 và điểm b khoản 2 Điều 357 của BLTTHS và Điều 300 BLTTDS chấp nhận đơn kháng cáo của bị hại, sửa bản án sơ thẩm theo hướng ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại, sửa án phí hình sự sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.
[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 300 BLTTDS.
Chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Hải T2 về yêu cầu tăng bồi thường dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa về trách nhiệm bồi thường dân sự và án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.
Trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ vào Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo M Kỳ Công phải bồi thường số tiền 73.200.000đ theo bản án sơ thẩm và 65.000.000₫ phúc thẩm, tổng số tiền là 138.200.000đ, trừ đi số tiền bị cáo bồi thường là 50.000.000đ, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 88.200.000đ (Tám mươi tám triệu hai trăm nghìn đồng) cho bị hại Nguyễn Hải T2.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bị hại có tên ở trên có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong số tiền ở trên bên phải thi hành án, còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 và danh mục án phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Mai Kỳ C phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 4.410.000₫ (bốn triệu bốn trăm mười nghìn đồng) ) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.
- Về án phí phúc thẩm: Bị hại Nguyễn Hải T2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Vũ Đại Long |
Bản án số 181/2024/HS-PT ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 181/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích, yêu cầu về bồi thường
