Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2024/HS-PT

Ngày: 26/9/2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lịnh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Phong

Ông Trương Ngọc Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Quý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Huy H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 116/2024/HS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Họ và tên: Nguyễn Huy H, sinh ngày 04/6/1993 tại huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; chỗ ở hiện nay: Ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1970 và bà Vũ Thị L, sinh năm 1970; vợ thứ nhất: Trần Lê Hồng N, sinh năm 1995 (đã ly hôn); vợ thứ hai: Nông Thị T, sinh năm 2002 (chung sống như vợ chồng); có 02 người con, sinh năm 2018 và năm 2023; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 11/10/2023, tạm giam ngày 20/10/2023 đến nay (Có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 10/10/2023, Nguyễn Huy H đến quán Bar I trên đường H thuộc khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang gặp Nguyễn Văn T1 cùng nhóm bạn của T1 từ Hà Nội đến gồm: Đặng Đạt T2, Trương Đình D, Nguyễn Đình SVàng Thị D1. Đến khoảng 01 giờ ngày 11/10/2023, T1 chở H cùng 02 người khác (H không biết rõ họ tên) về Khách sạn F thuộc ấp C, xã D, thành phố P là nơi H thuê để kinh doanh. Đến nơi, H đưa 02 người khách này vào Phòng số 15 ngủ, còn H lên phòng A3 của khách sạn nằm nghỉ. Lúc này, T1 yêu cầu H bố trí 01 phòng để Tề mời nhóm khách đến từ Hà Nội đến chơi, H đồng ý. Thời điểm này T2, D, SD1 vừa tới, H mở cửa phòng số 08 để tất cả vào phòng, sau đó H đi lấy thêm chăn, ga, gối, niệm, ấm đun điện siêu tốc theo yêu cầu của nhóm khách để thêm vào phòng. Còn T1 đi lấy 01 cái dĩa, 01 cái tô, 01 cái vá (giá) mang vào phòng số 08. Khoảng 15 phút sau H đi vào phòng số 08 thấy T2, D, S, D1 đang sử dụng trái phép chất ma túy (dạng nước) trong 01 cái tô và ma túy loại Ketamin trên dĩa. H ngồi chơi được khoảng 15 phút thì có nhóm nhân viên của quán bar I là Quách Thị V, Lý Thảo N1Huỳnh Thị Kim C do Nguyễn Thị Thúy H2 điều đến để cùng sử dụng trái phép chất ma túy với nhóm ở Hà Nội. Lúc này có người mời H sử dụng ma túy ở dạng nước (H không nhớ ai mời), H đồng ý uống một ít rồi nằm ngủ, còn T1 bỏ đi về. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày có lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Đặng Đạt T2, Trương Đình D, Nguyễn Đình S, Vàng Thị D1, Quách Thị V, Lý Thảo N1Huỳnh Thị Kim C đang sử dụng trái phép chất ma tuý và thu giữ trong ví da màu nâu của T2 01 bịch ma tuý, số ma tuý còn lại chứa trong cái tô, dĩa và các tang vật liên quan khác. Đến ngày 19/10/2023, Nguyễn Huy H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P khởi tố, tạm giam để điều tra.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) bịch nylon màu trắng có rãnh gài viền màu đỏ, kích thước khoảng 05cm x 8,7cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất, đã được niêm phong (được thu giữ khi bắt quả tang); 01 (một) bịch nylon màu trắng có rãnh gài viền màu đỏ, kích thước khoảng 07cm x 13,5cm, bên trong có chứa dung dịch lỏng màu vàng, đã được niêm phong (được thu giữ khi bắt quả tang) – Gói 1;
  • - 01 (một) bịch nylon màu đen có rãnh gài, kích thước khoảng 04cm x 5,9cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất, đã được niêm phong (được thu giữ trong vi da màu nâu của Đặng Đạt T2) - Gói 2;
  • - 01 (một) dĩa sứ màu trắng, hình tròn, có đường kính 22cm, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) cái tô bằng sứ, tròn màu trắng, đường kính 18cm, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) ống hút bằng tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng.
  • - 01 (một) thẻ nhựa, một mặt có dòng chữ Seashell, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) cái vá bằng kim loại có chiều dài 25,5cm đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) đèn chiếu hình người, màu trắng, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) đèn chiếu màu đen, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) loa có dòng chữ JBL, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) ví da màu nâu, đã qua sử dụng
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số imei: 354991553961949, số imei 2: 354991553886997, đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Huy H).

* Tại bản Kết luận giám định số 1050/KL-KTHS ngày 19/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh K, kết luận:

  • - Gói 01:
    • + Dung dịch màu vàng chứa trong 01 (một) bịch nylon màu trắng có rãnh gài viền màu đỏ, kích thước khoảng 07cm x 13,5cm được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Nimetazepam. Thể tích mẫu gửi giám định là 5 mililit.
    • + Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất chứa bên trong 01 (một) bịch nylon màu trắng có rãnh gài viền màu đỏ, kích thước khoảng 05cm x 8,7cm được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,4356 gam.
  • - Gói 02: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất chứa bên trong 01 (một) bịch nylon màu đen, có rãnh gài, kích thước khoảng 04cm x 5,9cm được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,7055 gam.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 116/2024/HS-ST, ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy H phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H 07 (B) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 11/10/2023.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 05/8/2024, bị cáo Nguyễn Huy H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo H có ý kiến giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang có ý kiến đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo H, giảm cho bị cáo từ 1 năm đến 1 năm 6 tháng tù so với mức hình phạt tù bản án sơ thẩm đã tuyên, tức xử phạt bị cáo từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:

Xét đơn kháng cáo của bị cáo về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về quyết định của bản án sơ thẩm:

Ngày 11/10/2023, Công an thành phố P bắt quả tang Đặng Đạt T2, Trương Đình D, Nguyễn Đình S, Vàng Thị D1, Quách Thị V, Lý Thảo N1Huỳnh Thị Kim C sử dụng trái phép chất ma tuý tại Khách sạn F thuộc ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang là nơi Nguyễn Huy H thuê để kinh doanh, mặc dù H biết những người này sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi thuộc quyền quản lý của mình nhưng vẫn chấp nhận để cho họ sử dụng, đồng thời bản thân H còn tham gia sử dụng ma túy với họ. Do đó cấp sơ thẩm truy tố, xét xử và kết án bị cáo về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định.

[3] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo:

Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo chứa chấp đến 07 người sử dụng trái phép chất ma túy, phạm vào điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù. Trong khi bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 năm tù mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, đồng thời đã có phần xem xét chiếu cố cho bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt nhưng không đưa ra thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới thuộc khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên không đủ điều kiện để có thể áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự (dưới 7 năm tù). Do đó kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo không có cơ sở để chấp nhận.

Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí, căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo H phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự:

Không chấp kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 116/2024/HS-ST, ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

2. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H 07 (B) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 11/10/2023.

3. Về án phí, căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Huy H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 116/2024/HS-ST, ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1);
  • - VKSND Cấp cao tại Tp. HCM (1);
  • - TAND Cấp cao tại Tp . HCM (1);
  • - VKSND tỉnh KG (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh KG (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh KG (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - CQĐT Tp Phú Quốc (1)
  • - VKS Tp Phú Quốc (1)
  • - Tòa án Tp Phú Quốc (1)
  • - THHS Tp Phú Quốc (1)
  • - Chi cục THADS Tp Phú Quốc (1)
  • - Tổ hành chính tư pháp (1);
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu tòa hình sự (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Văn Lịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2024/HS-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 181/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Huy H cho nhiều người khác sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở của mình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger