Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29/11/2024

V/v "Tranh chấp ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bảo Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Phương

Ông Trần Vinh Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phong Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ X, sinh năm 1996

Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Byeon Young C, sinh năm 1985

Địa chỉ: B, H-ri, Samga-myeon Hapcheon-gun, G-do, K (Hàn Quốc).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ X trình bày và yêu cầu:

Nhờ người quen giới thiệu, năm 2015 bà và ông Byeon Young C xác lập hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đã ghi vào Sổ đăng ký kết hôn tại Sở tư pháp thành phố Cần Thơ số: 479 ngày 03/11/2015. Sau khi kết hôn, năm 2016 bà sang Hàn Quốc sinh sống cùng với ông Byeon Young C. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do bất đồng ngôn ngữ, không hợp tính cách, lối sống. Cuối năm 2016, bà dọn đồ ra ngoài sống riêng, đến tháng 01/2019 thì bà trở về Việt Nam sinh sống cho đến nay và kể từ khi ra ngoài sống riêng bà và ông Byeon Young C đã không còn liên lạc với nhau.

Quá trình chung sống, bà và ông Byeon Young C không có con chung, không có tài sản và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Nay, bà yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho bà được ly hôn với ông Byeon Young C.

Bị đơn là ông Byeon Young C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thu thập được ý kiến của ông.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa: những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, do hai bên bất đồng quan điểm, thời gian ly thân kéo dài, hai bên không còn liên lạc gì với nhau, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Mỹ X được ly hôn với ông Byeon Young C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Mỹ X khởi kiện xin ly hôn với ông Byeon Young C cư trú tại Hàn Quốc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà Mỹ X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông Byeon Young C đã được Tòa án tống đạt thông báo hợp lệ về thời gian mở phiên tòa nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do. Vì vậy, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ X và ông Byeon Young C chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được ghi vào Sổ đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp thành phố Cần Thơ Số: 479 ngày 03/11/2015 (theo Trích lục ghi chú kết hôn bản sao số 373/TLGCKH-BS ngày 13/12/2023) nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà Mỹ X trình bày, sau khi kết hôn, năm 2016 bà sang Hàn Quốc sinh sống với ông Byeon Young C. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do bất đồng ngôn ngữ, không hợp tính cách, lối sống. Cuối năm 2016 bà dọn ra ngoài sống riêng, đến tháng 01/2019 thì bà trở về Việt Nam cư trú cho đến nay và không còn liên lạc với ông Byeon Young C.

Nhận thấy, giữa bà Mỹ X và ông Byeon Young C đã có thời gian dài sống ly thân, mỗi người sống ở một quốc gia, không quan tâm liên lạc gì với nhau nên tình cảm thật sự phai nhạt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà Mỹ X được ly hôn với ông Byeon Young C là phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Mỹ X khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác khi có yêu cầu.

2

[4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng và lệ phí ủy thác, chi phí thông báo tố tụng, nguyên đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 153, khoản 2 Điều 227, khoản 6 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ X.
    • Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Mỹ X được ly hôn với ông Byeon Young C.
    • Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Mỹ X trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
  2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mỹ X phải chịu 300.000₫, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm bà Mỹ X đã nộp theo Biên lai thu số 0000236 ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà Mỹ X đã nộp đủ tiền án phí.
  3. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Mỹ X phải chịu 200.000 đồng lệ phí ủy thác tư pháp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 200.000 đồng theo Biên lai thu số 0000293 ngày 27/3/2024 của Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Bà Mỹ X còn phải chịu chi phí đăng thông báo tố tụng cho Byeon Young C. Bà Mỹ X đã nộp đủ chi phí tố tụng.
  4. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Mỹ X có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết; Ông Byeon Young C được quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo luật định./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TPCT;
  • - Cục THADS TPCT;
  • - Sở Tư pháp TPCT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Võ Bảo Anh

3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 181/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger