|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 181/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28/11/2024 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
* Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa
- Bà Nguyễn Thị Hương
- - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chuỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 179/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2024/QĐXX-ST ngày 24 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 71/QĐ-HPT ngày 11/11/2024 giữa:
* Nguyên đơn: Chị Quách Thị G, Sinh năm 2000. (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa
* Bị đơn: Anh Hà Văn T, Sinh năm 1996. (Vắng mặt)
ĐKNKTT: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa
Nơi ở hiện nay: Hiện đang cư trú, lao động tại Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Quách Thị G trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Hà Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N, tỉnh Thanh hóa vào ngày 03/10/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T cũng không chịu làm ăn thường xuyên tụ tập bạn bè để chơi bời, đã nhiều lần vợ chồng đã nói chuyện với nhau, thậm chí là gia đình anh T đã gặp gỡ trao đổi khuyên can, từ đó anh T hứa sẽ thay đổi nhưng rồi vẫn không có kết quả.
Để tách anh T ra khỏi đám bạn bè, gia đình đã đồng ý vay mượn tiền cho anh T ra nước ngoài lao động, làm ăn. Nhưng từ khi ra đến nước ngoài anh T sao nhãng dần vai trò trách nhiệm của người chồng, người cha, không quan tâm đến vợ con, tiền nong thời gian đầu còn gửi về để trả nợ, sau dần không gửi tiền về, không có trách nhiệm gì với vợ con nữa. Mặt khác, khi sang bên Đài Loan làm việc và sinh sống, năm đầu anh T còn thường xuyên điện thoại về hỏi thăm sức khỏe gia đình, và có gửi chút ít tiền về cho mẹ anh ấy, từ năm sau trở đi việc điện thoại dần ít đi, cách giao tiếp trong điện thoại cho tôi cũng khác và việc gửi tiền cũng không còn nữa. Cảm nhận của người vợ, tôi thấy có những dấu hiệu bất thường, tìm hiểu thì tôi thấy trên Facebook của anh T chị thấy anh ấy thường xuyên đăng hình ảnh, những cử chỉ thân thiện, nhạy cảm đối với người con gái khác. Biết được điều đó chị có trao đổi với mẹ anh T, gia đình anh T đã nhiều lần điện thoại để động viên, thậm chỉ chửi mắng, mặc dù anh không thừa nhận việc có quan hệ ngoại tình, nhưng lại đề nghị chị làm thủ tục ly hôn để mỗi người tự do lo cuộc sống riêng. Từ đó các cuộc điện thoại giữa hai người ít dần, nếu có cũng chỉ là cự cãi nhau mà thôi, từ tháng 8/2023 vợ chồng không nói chuyện điện thoại với nhau nữa. Tính đến nay vợ chồng sống xa nhau hai năm, hai bên không quan tâm gì đến nhau và nhiều lần xúc phạm nhiêm trọng đến nhau.
Từ thực tế đó chị thấy mâu thuẫn giữa hai người đã đến lúc trầm trọng, đời sống chung không có và không thể kéo dài cuộc hôn nhân nên chị làm đơn này thiết tha đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa giải quyết cho chị được ly hôn đối với anh Hà Văn T càng sớm càng tốt.
Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Hà Ngọc Bảo V, sinh ngày 29/01/2020, hiện nay cháu phát triển bình thường về thể chất và tinh thần và đang ở cùng chị.
Tại đơn khởi kiện và một số bản tự khai chị đề nghị được nuôi con và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại bản tự khai ngày 04/11/2024 tôi G đề nghị để cháu Bảo V cho bà nội cháu là bà Lô Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chị sẽ có trách nhiệm cấp tiền hàng tháng về cho bà nội nuôi dưỡng cháu với lý do cháu V ở với bà, với mẹ từ bé nên đã quen bà và hơn nữa có thể sau khi ly hôn chị sẽ đi làm ăn xa không đảm bảo điều kiện lo cho cháu cuộc sống tốt hơn.
Tại phiên tòa hôm nay chị T thay đổi lời khai ngày 04/11/2024, chị mong muốn được nuôi con chung là cháu Hà Ngọc Bảo V và không yêu cầu anh T phải đóng góp cấp dưỡng. Chị đã được gia đình bố mẹ đẻ tạo điều kiện có nơi ăn ở ổn định, chị đang làm việc tại Công ty may mặc gần nhà và có thu nhập tốt, đủ lo cho cuộc sống của hai mẹ con.
Về tài sản và công nợ: Vợ chồng chị không có tài sản chung cũng như không có công nợ chung và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị tự nguyện chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
* Bị đơn là anh Hà Văn T không có mặt tại Việt Nam nên chị G phải cung cấp cung cấp địa chỉ của anh Hà Văn T theo yêu cầu của Tòa án: Chị G không biết địa chỉ cụ thể của chồng là anh T ở đâu tại Đài Loan nên không thể cung cấp, chị cho biết anh T vẫn thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ là Lô Thị H, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh hóa. Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin của anh T từ gia đình và mẹ đẻ anh ấy.
Theo yêu cầu của chị G, ngày 10/10/2024 và ngày 23/10/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa cùng đại diện chính quyền địa phương tiến hành xác minh tại gia đình bà Lô Thị H (mẹ anh T) ở Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh hóa thì được biết:
Chị G và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 03/10/2019 tại Ủy ban nhân dân xã P; Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng gia đình anh T tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Năm 2022 anh T đi xuất khẩu lao động bên Đài Loan, nơi làm việc cụ thể, địa chỉ ở đâu bên Đài Loan bà không biết và anh T cũng không nói, anh T vẫn thường xuyên liên lạc qua điện thoại về gia đình. Việc anh T chị G đang làm thủ tục ly hôn bà không hề biết, chỉ thấy thời gian gần đây chị G thường xuyên phàn nàn về việc anh T không chung thuỷ nên có ý định chia tay, bà cũng đã can ngăn và phân tích. Hiện tại cháu G vẫn đi làm công nhân dưới thành phố T và thường xuyên về sinh hoạt tại gia đình cùng bà, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng thế nào bà cũng không hiểu tường tận. Nay cháu G có đơn xin ly hôn thì bà cũng tôn trọng quyết định của hai con, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng anh T chị G có 01 con chung, cháu tên là Hà Ngọc Bảo V, sinh ngày 29/01/2020, cháy V ở cùng với bà, với mẹ từ lúc 08 tháng tuổi, bà thường xuyên chăm sóc cháu V từ bé cho đến nay, cháu V theo bà và bà cháu rất quyến luyến. Mặc dù bố cháu ở nước ngoài nhưng bà vẫn có đủ điều kiện kinh tế để tiếp tục chăm sóc và nuôi cháu lớn khôn ăn học thành người, mẹ cháu trước đến nay đều rất có trách nhiệm với cháu nhưng nếu sau khi ly hôn chị G đi làm ăn xa, không tiện chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V thì nếu có thể được xin Toà xem xét cho tôi được chăm sóc nuôi dưỡng cháu Bảo V, còn việc cấp dưỡng thì tùy vào bố mẹ của cháu.
Về tài sản, công nợ chung của vợ chồng chị G, anh T: Bà không biết, không có liên quan gì nên không có ý kiến.
* Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- - Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, trong quá trình thụ lý, giải quyết đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về hướng giải quyết vụ án:
- Đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Quách Thị G về việc xin ly hôn anh Hà Văn T1 là có căn cứ pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án. anh Hà Văn T1 và gia đình anh cố tình không cung cấp địa chỉ cụ thể cho chị G và Tòa án, nên Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa không lấy được lời khai trình bày của anh T và không thể tiến hành các thủ tục Tố tụng đối với anh T1 theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ - HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ thì Tòa án vẫn đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Đề nghị HĐXX:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Quách Thị G, cho chị G được ly hôn với anh Hà Văn T.
- - Về con chung: Giao cho chị Quách Thị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hà Ngọc Bảo V, sinh ngày 29/01/2020 đến khi đủ 18 tuổi; chấp nhận việc chị G không yêu cầu anh Hà Văn T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng chị G.
- - Về tài sản và công nợ chung: Chị Quách Thị G không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- - Về án phí: Chị Quách Thị G là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị 300.000 đồng. chị G đã nộp đủ án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Tại Đơn khởi kiện ngày 13/9/2024, chị G trình bày hiện tại anh T đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, trên thực tế theo Công văn số 4375/XNC(T3) ngày 26/9/2024 của Phòng Q Công an tỉnh T xác nhận Hà Văn T đã xuất cảnh khỏi Việt Nam vào ngày 26/12/2022 qua cửa khẩu sân bay N đến nay chưa có thông tin nhập cảnh.
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
- Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn: Anh Hà Văn T không có địa chỉ cụ thể tại Đài Loan nhưng thường xuyên liên lạc về gia đình qua điện thoại. Mẹ anh là bà Lô Thị H đã cam kết sẽ thông tin các văn bản tố tụng liên quan đến việc ly hôn cho anh T. do đó việc cấp tống đạt cho anh T tại nước ngoài được thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo, quyết định tố tụng trong vụ án cho mẹ anh Hà Văn T là bà Lô Thị H.
[2] Xét nội dung khởi kiện của chị Quách Thị G
[2.1] Về hôn nhân:
Chị Quách Thị G và anh Hà Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P huyện N tỉnh Thanh Hóa vào Ngày 03 tháng 10 năm 2019 nên là hôn nhân hợp pháp theo qui định tại điều 8; 9 luật HNGĐ năm 2014.
Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, chị G trình bày vợ chồng chị sau khi cưới sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, một phần do tính cách không hợp nhau, anh T ham chơi bời thiếu quan tâm, không có trách nhiệm với gia đình, một phần do điều kiện kinh tế khó khăn. Năm 2022 anh T đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan, thời gian đầu anh T thỉnh thoảng liên lạc về gia đình và gửi tiền về trả nợ, sau đó thì ngày càng thừa dần. Do khoảng cách về không gian, có những việc không hay xảy ra khiến niềm tin vợ chồng không còn nên thường xuyên bất hòa, tình cảm vợ chồng phai nhạt, không có tiếng nói chung và từ tháng 8/2023 đến nay thì không còn liên lạc với nhau nữa. Mỗi người tự lo cho cuộc sống của mình không quan tâm đến nhau.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị G và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần giải quyết cho chị G được ly hôn anh T để hai người đi tìm cho mình hạnh phúc mới theo quy định tại Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung:
Chị G và anh T có 01 (một) con chung là cháu Hà Ngọc Bảo V, sinh ngày 29/01/2020, cháu Bảo V đang sống cùng chị G và chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy nguyện vọng của chị xin được trực tiếp nuôi con là chính đáng vì hiện nay anh T đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con được.
Do đó để đảm bảo quyền lợi và tốt nhất cho cháu, cần giao cháu Bảo V cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, chị G tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con. Xét thấy chị G có công việc làm, có thu nhập và nơi ở ổn định, đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Bảo V và đây là sự tự nguyện của chị G nên được chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về tài sản, công nợ chung: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau này nếu anh T, chị G yêu cầu thì có quyền khởi kiện tại Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
[3] Về án phí: Chị Quách Thị G là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 273; 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 51; 56; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 6; điểm a Khoản 1 Điều 24; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Quách Thị G
- - Về hôn nhân: Cho chị Quách Thị G được ly hôn anh Hà Văn T
- - Về con chung: Giao cháu Hà Ngọc Bảo V - Sinh ngày 29/01/2020 là con chung của chị Quách Thị G và anh Hà Văn T cho chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Anh T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị G.
- Về án phí: Chị Quách Thị G phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Biên lai thu số: 0000573 ngày 08/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. (Chị G đã nộp đủ tiền án phí).
- Quyền kháng cáo:
Anh Hà Văn T có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Chị Quách Thị G có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể kể từ ngày tuyên án.
Anh Hà Văn T có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được Bản án, hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Quân |
Bản án số 181/2024/HNGĐ-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 181/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
