Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 181/2024/DS-ST

Ngày: 02 - 5 - 2024

V/v: “T/c Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Thế Viễn

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Soan

bà Nguyễn Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: ông Phan Gia Hưng – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân

quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa:

Đinh Hương Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 618/2023/TLST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2023; về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 96/2024/QÐST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á (A); địa chỉ trụ sở: D N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: ông Từ Tiến P; chức vụ: Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Đình L; chức vụ: Phó Giám đốc Phòng Quản lý nợ (Giấy ủy quyền 1285/UQ-QLN.22 ngày 05/7/2022 của người đại diện theo pháp luật); ông Ngô Thanh C, sinh năm 1979; chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ và ông Lê Xuân M, sinh năm 1970; chức vụ: Nhân viên xử lý nợ; địa chỉ liên lạc: Lầu H, Tòa nhà A, 444A – D C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).

Bị đơn: ông Phan Thành N, sinh năm 1974; địa chỉ: G N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 22 tháng 9 năm 2023, bản tự khai, các lần làm việc tại Tòa án và các bản sao kê, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Á (A) (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) do ông Nguyễn Đình L, ông Ngô Thanh C và ông Lê Xuân M là đại diện theo ủy quyền trình bày: ngày 21/5/2012 ông Phan Thành N có ký với Ngân hàng Hợp đồng tín dụng trả góp, số tiền cho vay là 60.000.000 đ (sáu mươi triệu đồng) với mục đích tiêu dùng cá nhân, phương thức cho vay là vay trung dài hạn, toàn bộ số tiền vay (nợ gốc) được giải ngân một lần vào tài khoản thanh toán số [...] của ông Phan Thành N mở tại Ngân hàng, thời hạn cho vay là 36 tháng lãi suất trong hạn là 14,16%/năm (tính theo số tiền vay ban đầu), lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, phạt trễ hạn 200.000 đồng/kỳ trễ hạn. Trong quá trình vay vốn, ông N vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó ngày 25/4/2014, Ngân hàng đã thông báo thu hồi nợ trước hạn và ngày 26/5/2014, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 02/5/2024, ông N còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 134.284.177 đ (một trăm ba mươi bốn triệu hai trăm tám mươi bốn ngàn một trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó bao gồm: vốn gốc là 39.996.000 đồng; lãi trong hạn là 8.429.523 đồng; phạt trễ kỳ là 2.400.000 đồng; lãi quá hạn là 83.458.653 đồng.

Tại phiên tòa ngày 02/5/2024, ông Lê Xuân M là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút yêu cầu phạt trễ kỳ là 2.400.000 đồng. Cụ thể tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết: buộc ông N phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng tổng số nợ tính đến ngày 02 tháng 5 năm 2024 là 131.884.177 đ (một trăm ba mươi mốt triệu tám trăm tám mươi bốn ngàn một trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó bao gồm: vốn gốc là 39.996.000 đồng; lãi trong hạn là 8.429.523 đồng; lãi quá hạn là 83.458.653 đồng, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ông N còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất theo quy định tại Hợp đồng tín dụng trả góp (số tài khoản vay 136631699) tính kể từ ngày 03 tháng 5 năm 2024 cho đến khi thanh toán đủ toàn bộ khoản nợ.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ ông N đến Tòa án tham gia tố tụng; nhưng ông N không đến, nên Tòa án không ghi được lời khai của ông N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:

Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Viện kiểm sát không có kiến nghị về thủ tục tố tụng.

Về nội dung: Ngân hàng TMCP Á (A) đã ký kết Hợp đồng tín dụng trả góp (số tài khoản vay: 136631699) với ông Phan Thành N theo như nội dung nguyên đơn đã trình bày. Quá trình thực hiện hợp đồng ông N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Căn cứ vào Bảng tính lãi khoản vay do Ngân hàng cung cấp tại phiên tòa, tính đến ngày 02/5/2024 ông N còn nợ số tiền nêu trên. Việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán của ông N đã ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của Ngân hàng.

Tại phiên tòa ngày 02/5/2024, ông Lê Xuân M là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút yêu cầu phạt trễ kỳ là 2.400.000 đồng. Cụ thể tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết: buộc ông N phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng tổng số nợ tính đến ngày 02 tháng 5 năm 2024 là 131.884.177 đ (một trăm ba mươi mốt triệu tám trăm tám mươi bốn ngàn một trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó bao gồm: vốn gốc là 39.996.000 đồng; lãi trong hạn là 8.429.523 đồng; lãi quá hạn là 83.458.653 đồng, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Do đó căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: buộc ông Phan Thành N thanh toán số tiền nợ gốc, lãi trong hạn theo thỏa thuận tại hợp đồng đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng. Việc xin rút một phần yêu cầu khởi kiện là tính phạt trễ kỳ với số tiền là 2.400.000 đồng của nguyên đơn là phù hợp với pháp luật nên có cơ sở để chấp nhận.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: buộc ông Phan Thành N thanh toán số tiền nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn phát sinh trên số tiền chưa thanh toán theo thỏa thuận tại hợp đồng đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP Á (A). Đình chỉ yêu cầu buộc ông N trả tiền phạt chậm trả là số tiền 2.400.000 đồng của nguyên đơn.

Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ngày 21/5/2012 ông Phan Thành N có ký với Ngân hàng TMCP Á (A) (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng tín dụng trả góp. Do đó, có cơ sở xác định giữa ông N và Ngân hàng có giao kết hợp đồng dân sự vay tài sản như quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. Do ông N không trả tiền vay nên Ngân hàng khởi kiện; quan hệ tranh chấp này là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông N có nơi cư trú cuối cùng tại quận G, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, triệu tập ông N tới Tòa án để giải quyết vụ án. Do ông N không tới Tòa theo triệu tập của Tòa án, nên Tòa án không ghi được lời khai của ông N và không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông N không tới tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu tại phiên tòa ngày 02/5/2024, ông Lê Xuân M là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút yêu cầu phạt trễ kỳ là 2.400.000 đồng. Cụ thể tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết: buộc ông N phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng tổng số nợ tính đến ngày 02 tháng 5 năm 2024 là 131.884.177 đ (một trăm ba mươi mốt triệu tám trăm tám mươi bốn ngàn một trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó bao gồm: vốn gốc là 39.996.000 đồng; lãi trong hạn là 8.429.523 đồng; lãi quá hạn là 83.458.653 đồng, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ông N còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất theo quy định tại Hợp đồng tín dụng trả góp (số tài khoản vay 136631699) tính kể từ ngày 03 tháng 5 năm 2024 cho đến khi thanh toán đủ toàn bộ khoản nợ.

Sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, xét thời điểm giao kết và thực hiện hợp đồng, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Trường hợp có quy định khác nhau giữa luật này và các luật khác có liên quan về thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức, .. thì áp dụng theo quy định của Luật này”, theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do vậy, đối với hợp đồng vay tài sản mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng được thực hiện theo thỏa thuận; Hội đồng xét xử xét lãi suất của Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết phù hợp với quy định của pháp luật, nhận thấy yêu cầu của Ngân hàng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thấy cần đình chỉ xét xử đối với yêu cầu tính phạt chậm trả là số tiền 2.400.000 đồng.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thống nhất:

Chấp nhận yêu cầu toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông N phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng tổng số nợ tính đến ngày 02 tháng 5 năm 2024 là 131.884.177 đ (một trăm ba mươi mốt triệu tám trăm tám mươi bốn ngàn một trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó bao gồm: vốn gốc là 39.996.000 đồng; lãi trong hạn là 8.429.523 đồng; lãi quá hạn là 83.458.653 đồng, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 03 tháng 5 năm 2024, ông N còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng trả góp (số tài khoản vay: 136631699) đến ngày trả hết nợ.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn là buộc ông N trả Ngân hàng TMCP Á (A) số tiền phạt chậm trả là 2.400.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên ông N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.594.209 đ (sáu triệu năm trăm chín mươi bốn ngàn hai trăm linh chín đồng). Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Á (A) số tiền 3.222.568 đ (ba triệu hai trăm hai mươi hai ngàn năm trăm sáu mươi tám đồng) mà nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số: AA/2023/0012710 ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 150, Điều 203, Điều 207, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự số năm 2015.

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

- Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 và Áp dụng pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án năm 2009.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Buộc buộc ông N phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng tổng số nợ tính đến ngày 02 tháng 5 năm 2024 là 131.884.177 đ (một trăm ba mươi mốt triệu tám trăm tám mươi bốn ngàn một trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó bao gồm: vốn gốc là 39.996.000 đồng; lãi trong hạn là 8.429.523 đồng; lãi quá hạn là 83.458.653 đồng, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 03 tháng 5 năm 2024, ông N còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng trả góp (số tài khoản vay: 136631699) đến ngày trả hết nợ.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn là buộc ông N trả Ngân hàng TMCP Á (A) số tiền phạt chậm trả là 2.400.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên ông N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.594.209 đ (sáu triệu năm trăm chín mươi bốn ngàn hai trăm linh chín đồng). Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Á (A) số tiền 3.222.568 đ (ba triệu hai trăm hai mươi hai ngàn năm trăm sáu mươi tám đồng) mà nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số: AA/2023/0012710 ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo các quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - VKSND q. GV
  • - THA DS q. GV;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thế Viễn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2024/DS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 181/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP A khởi kiện ông N về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger