|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 180/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31 - 05 - 2024
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo
Ông Trần Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương Ly- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam- Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 05 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 436/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định hoãn số phiên tòa số 58/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đàm Thị T, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1983
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Hiện cư trú tại Đài Loan. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Đàm Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 27 tháng 05 năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì anh H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Sau một thời gian do ở xa nhau nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh H không chung thủy, cả hai vợ chồng không tìm thấy tiếng nói chung. Đến nay, vợ chồng không còn quan tâm lẫn nhau cả về vật chất lẫn tinh thần. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
Về con chung: Chị Đàm Thị T và Anh Nguyễn Văn H có ba con chung là cháu Nguyễn Minh Hiếu s ngày 02/07/2008, cháu Nguyễn Thị Thủy s1 ngày 23/10/2010, cháu Nguyễn Minh H1 sinh ngày 17 tháng 10 năm 2014; hiện đang ở cùng chị T. Ly hôn, chị T có nguyện vọng Tòa án giao các con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn H: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là anh Nguyễn Văn H vắng mặt. Chị Đàm Thị T không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh H cư trú, chị chỉ biết hiện nay anh H đang sinh sống tại Đài Loan. Tòa án đã hai lần gửi văn bản yêu cầu bà Nguyễn Thị T1 (là mẹ đẻ của anh H), trú tại: Xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cũng như yêu cầu bà thông báo với anh H để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, tại đơn trình bày ý kiến bà T1 cho biết thời gian ở nước ngoài, anh H thường xuyên liên lạc về với bà qua điện thoại còn địa chỉ cụ thể của anh H thì anh H không cung cấp nên bà không biết. Bà đã thông báo cho anh H biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa anh H và chị T. Về việc chị T khởi kiện ly hôn với anh H thì bà không có ý kiến gì đề nghị Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Đàm Văn T2 ly hôn với anh Nguyễn Văn H. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Minh Hiếu s ngày 02/07/2008, cháu Nguyễn Thị Thủy s1 ngày 23/10/2010, cháu Nguyễn Minh H1 sinh ngày 17 tháng 10 năm 2014 cho chị Đàm Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu nên không xem xét; giành quyền khởi kiện về chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị T hiện cư trú tại Việt Nam làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H hiện cư trú ở nước ngoài (theo công văn số 30308 của Cục Q); trước xuất cảnh, anh Đ có địa chỉ cư trú tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là anh Nguyễn Văn H vắng mặt, Tòa án đã gửi công văn yêu cầu bà Nguyễn Thị T1 (là mẹ đẻ của anh H ) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho anh H biết để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, bà không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh H; đến nay Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của anh H liên quan đến yêu cầu khởi kiện nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi trú cuối cùng của anh H trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Đàm Thị T có đơn xin xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đàm Thị T, Hội đồng xét xử thấy rằng:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị T và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị T và anh H sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì anh H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Từ đó hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, hai bên không tìm được tiếng nói chung. Từ đó đến nay chị T và anh H không còn liên lạc với nhau. Xét thấy, chị T và anh H không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Đàm Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Chị Đàm Thị T và anh Nguyễn Văn H có ba con chung là cháu Nguyễn Minh Hiếu s ngày 02/07/2008, Nguyễn Thị Thủy sinh ngày 23/10/2010, Nguyễn Minh H1 sinh ngày 17 tháng 10 năm 2014, hiện các con đang ở với chị T. Ly hôn, chị T có nguyện vọng giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng của chị T là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện thực tế, vì hiện nay, anh Nguyễn Văn H đang ở nước ngoài và cố tình giấu địa chỉ. Do đó, căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị T. Giao cho chị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung cháu Nguyễn Minh Hiếu s ngày 02/07/2008, Nguyễn Thị Thủy sinh ngày 23/10/2010, Nguyễn Minh H1 sinh ngày 17 tháng 10 năm 2014 cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho chị T khi có yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đàm Thị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Đàm Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình 2014; Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 4 Điều 207; Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đàm Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Giao con chung cháu Nguyễn Minh Hiếu s ngày 02/07/2008, Nguyễn Thị Thủy sinh ngày 23/10/2010, Nguyễn Minh H1 sinh ngày 17 tháng 10 năm 2014 cho chị Đàm Thị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T chưa yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đàm Thị T không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Đàm Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001413 ngày 14/12/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Chị Đàm Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Mỹ Hải |
Bản án số 180/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 180/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình
