|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 180/2023/HS-PT Ngày 29-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hằng
Các Thẩm phán: Ông Lưu Văn Tỉnh và ông Phạm Hữu Trường
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 124/2023/TLPT-HS ngày 19 tháng 9 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo Lê Bằng G đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2023/HSST ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.
Bị cáo kháng cáo:Lê Bằng G, sinh năm 1978 tại Nghệ An; nơi cư trú: Làng M, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thổ; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Hữu Ư (đã chết), con bà Đậu Thị H; có vợ là Nguyễn Thị M; có 04 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 09/12/2022; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo:
+ Bà Nguyễn Thị Thu T - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
+ Ông Phạm Văn T1 - Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
+ Ông Trần Văn S, ông Vũ Văn Q, bà Trịnh Thị H1 - Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Ông Vũ Văn Q có mặt. Ông Trần Văn S và bà Trịnh Thị H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị hại: Phạm Văn P, đồng thời là bị cáo trong vụ án; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Chị Lê Thị X; có đơn xin xét xử vắng mặt;
+ Chị Lộc Thị C; vắng mặt;
+ Ông Đào Văn M1; vắng mặt;
+ Bà Nguyễn Thị H2; vắng mặt;
+ Anh Nguyễn Duy Đ; vắng mặt;
+ Bà Nguyễn Thị V; vắng mặt.
- Người giám định: Ông Nguyễn Văn S1 – Giám định viên Trung tâm pháp y thành phố H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Bằng G và chị Lê Thị X là người cùng bán hàng hoa quả tại khu vực cổng Công ty S2 thuộc tổ F, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Khoảng 21 giờ ngày 02-8-2022, do mâu thuẫn trong việc bán hàng, G và chị X có xảy ra cãi chửi nhau. Trong khi G và chị X cãi nhau thì Phạm Văn P (chồng chị X) đến, giữa P và G có xô sát với nhau. Sau đó, P lấy thanh tuýp sắt vụt nhiều nhát về phía người G, G có cầm một số đồ dùng để chống trả và ném về phía P nhưng không trúng. Khi P cầm tuýp sắt vụt liên tục vào người G, do G giơ tay trái lên đỡ nên bị một nhát trúng vào mu bàn tay trái của G. Trong quá trình P và G xô xát, khi bị P đánh, G đã lấy một con dao nhọn trong thùng đồ bán hàng cầm ở tay phải rồi đâm về phía người P nhiều nhát, trong đó có một nhát đâm trúng vào mạn sườn bên phải của P, 01 nhát trúng vào cánh tay phải, 01 nhát trúng bàn tay trái của P nên P bỏ chạy. Sau khi P chạy ra khỏi khu vực bán hàng của G, G vất con dao xuống mép đường rồi rút đoạn tuýp sắt dùng làm cọc để cắm ô bán hàng tiếp tục đuổi theo P. Khi P chạy sang bên đường chạy vào quán Bi-a của chị Trần Thị V1, G đuổi P đến cửa quán rồi quay lại để tuýp sắt ở cửa số nhà D phố M, quận D và về gian hàng của mình cầm theo con dao lên xe máy bỏ đi. Khoảng 23 giờ cùng ngày, G mang con dao đến Công an phường H, quận D trình diện, sau đó đến bệnh viện K điều trị vết thương, Phạm Văn P được gia đình đưa đến bệnh viện điều trị.
Công an phường H đã tới hiện trường và thu giữ 02 thanh tuýp sắt 01 thanh có chiều dài 108,8 cm, đường kính 2,5 cm, trên ống có nhiều vết máu; 01 thanh có chiều dài 135,8 cm, đường kính 2,5 cm; 01 tấm gỗ dán kích thước 56 x 156 cm, phần ở giữa có vết nứt dài 57 cm; 01 con dao nhọn do Lê Bằng G giao nộp có cán bằng gỗ dài 30cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 17,3 cm, bản rộng nhất 04 cm.
Kết luận giám định pháp y số 455/2022/TgT ngày 07-9-2022 của Trung tâm P, đối với thương tích của Phạm Văn P: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28-8-2019 của Bộ Y: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương mạn sườn phải gây nên là 01%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do tổn thương màng phổi phải gây nên là 04%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do sẹo vết thương liền phẫu thuật vùng cánh tay phải gây nên là 03%. Tỷ lệ tổn thương do vết thương kẽ ngón I-II bàn tay trái gây nên là 01%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích gây nên theo phương pháp cộng tại Thông tư là 09%. Riêng tổn thương cơ, mạch máu, thần kinh giữa tại vết thương cánh tay phải chưa ổn định nên sẽ giám định bổ sung sau 01-02 tháng. Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc, sắc nhọn hoặc tương đối sắc tác động trực tiếp gây nên.
Kết luận giám định pháp y bổ sung về thương tích qua hồ sơ số 644/2022/TgT ngày 22-11-2022 của Trung tâm P, kết luận đối với Phạm Văn P: Trong bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 455/2022/TgT ngày 07-9-2022 đã đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do các vết sẹo và tổn thương màng phổi gây nên là 09%. Kết luận giám định bổ sung: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương đụng dập không hoàn toàn thần kinh giữa cánh tay phải gây nên là 21%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương đụng dập động mạch cánh tay phải gây nên là 07%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích trên gây nên theo phương pháp cộng tại Thông tư là 33%.
Kết luận giám định pháp y số 461/2022/TgT ngày 14-9-2022 của Trung tâm pháp y thành phố H, đối với thương tích của Lê Bằng G: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28-8-2019 của Bộ Y: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương mu bàn tay tráigây nên là 01%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương mu bàn tay trái gốc ngón III gây nên là 01%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy xương bàn III tay trái, biến dạng mu bàn tay, hạn chế vận động ngón II, III bàn tay trái gây nên là 14%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vỡ xương thuyền cổ tay trái, ảnh hưởng ít đến động tác khớp cổ tay trái gây nên là 07%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các vết thương tích trên gây nên là 22%. Các thương tích trên có đặc điểm do vật tày tác động trực tiếp gây nên.
Bị cáo G không đồng ý với kết luận giám định pháp y, bị cáo cho rằng tỷ lệ thương tích gây ra cho bị cáo P không phải 33% sức khỏe; hành vi của bị cáo chỉ là phòng vệ chính đáng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2023/HSST ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng đã căn cứ khoản điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Bằng G 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/12/2022.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 con dao nhọn cán gỗ dài 30 cm, 01 ống kim loại dài 108,8 cm, đường kính 2,5 cm; 01 ống dài 135,8 cm, đường kính 2,5 cm; 01 tấm ván gỗ dán kích thước 56 x 156 cm (theo Biên bản giao vật chứng ngày 16-5-2023 giữa Công an quận D và Chi cục Thi hành án dân sự quận Dương Kinh).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lê Bằng G kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, gia đình bị cáo G cùng người bào chữa đã giao nộp bổ sung một số tài liệu cho Tòa án:
- Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Ba, Huân chương kháng chiến hạng Ba, Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng N, Công nhận danh hiệu tuổi cao – gương sáng đối với ông Lê Hữu Ư là bố đẻ của bị cáo;
- Tài liệu về việc tự nguyện bồi thường số tiền 20 triệu đồng cho anh Phạm Văn P; anh P đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo G;
- 01 USB ghi âm quá trình làm việc tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận D (theo cung cấp của vợ bị cáo);
- 01 tập tài liệu phô tô ảnh chụp các tin nhắn Zalo giữa bị cáo G và bị cáo P (theo cung cấp của vợ bị cáo).
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo G thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác; bị cáo kháng cáo cho rằng bị cáo không phạm tội Cố ý gây thương tích cho anh Phạm Văn P như Bản án hình sự sơ thẩm đã nhận định và quyết định, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên bị cáo không có tội.
* Ông Vũ Văn Q và ông Phạm Văn T1 - người bào chữa cho bị cáo có quan điểm:
- Bản kết luận giám định pháp y về thương tích qua hồ sơ số 644/2022/TgT ngày 22/11/2022 của Trung tâm P có dấu hiệu thực hiện không đúng quy định của pháp luật, người bào chữa cho rằng giám định tổn thương cơ thể phải thực hiện trên cơ thể người cần giám định. Việc giám định bổ sung thương tích không đảm bảo theo quy định pháp luật.
- Về vấn đề thực nghiệm: Lời khai của G và P về vụ việc có những tình tiết khác nhau, Cơ quan điều tra tổ chức thực nghiệm và sử dụng kết quả này là một trong những căn cứ để chứng minh nội dung vụ án. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo nhiều lần có đơn yêu cầu thực nghiệm lại. Tuy nhiên, tại phiên tòa, Kiểm sát viên chỉ căn cứ vào lời khai của những người làm chứng, phù hợp với lời khai của người bị hại được thu thập một cách hợp pháp, vật chứng thu giữ được, thương tích thực tế để lại trên cơ thể bị hại, kết luận giám định để buộc tội bị cáo.
* Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Thị Thu T có quan điểm bào chữa cho bị cáo:
- Xét hành vi của bị cáo G: Khi bị cáo P tấn công bất ngờ và quyết liệt thì đối với bị cáo sự hoang mang, bất ngờ và lo lắng đã dâng đến đỉnh điểm, nên trong lúc nguy cấp vơ được con dao ở trong thùng đồ nơi bị cáo bị ngã vào bị cáo đã sử dụng để chống trả lại sự tấn công của bị cáo P. Điều này có thể được lý giải thông qua những vết thương mà bị cáo G gây ra đối với bị cáo P, đó là nhiều dạng vết thương ở nhiều vị trí khác nhau, càng thể hiện sự mất bình tĩnh và hoang mang của bị cáo G trước hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng của bị cáo P. Vì thế có cơ sở áp dụng thêm cho bị cáo G tình tiết điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra.
- Bị cáo G đã sử dụng phương tiện, phương pháp có thể là quá đáng và gây thiệt hại rõ ràng quá mức cho anh P thì cần xác định hành vi chống trả là không tương xứng và là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Vì vậy, hành vi của bị cáo G có dấu hiệu cấu thành tội "Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng" quy định tại Điều 126 Bộ luật Hình sự.
- Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Dương Kinh đã xử phạt bị cáo Lê Bằng G mức hình phạt cao hơn mức khởi điểm của khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là chưa đánh giá đầy đủ các tình tiết của vụ án, nguyên nhân và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo đã được áp dụng. Bị cáo G chưa có tiền án, tiền sự là người có nhân thân tốt, đây là lần đầu tiên bị cáo phạm tội. Xét tính chất của hành vi mà bị cáo thực hiện cũng có mức độ, bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo với nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã phân tích bị cáo hoàn toàn có đủ căn cứ để được xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự theo hướng thấp hơn mức thấp nhất của khung hình phạt khi Tòa án cấp phúc thẩm xem xét quyết định hình phạt.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Bằng G về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Trong quá trình điều tra và tại giai đoạn sơ thẩm, việc thực nghiệm điều tra đã được tiến hành, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì; yêu cầu về việc thực nghiệm điều tra lại là không phù hợp, không có căn cứ xem xét.
+ Kết luận giám định thương tích đối với bị hại P được thực hiện dựa trên cơ sở hồ sơ thương tích của bị hại. Đại diện Viện kiểm sát đã xác minh làm rõ về việc bị hại P điều trị tại Khoa cấp cứu Bệnh viện K hồi 22 giờ 15 phút ngày 02/8/2022 với chuẩn đoán thương tích ở lồng ngực, vết thương nông vùng cánh tay phải, vết thương bàn tay trái. Bệnh nhân được chụp phim Xquang; Trung tâm pháp y thành phố H đã căn cứ vào hồ sơ bệnh án của bị hại để đưa ra kết luận giám định trong trường hợp bị hại không hợp tác, từ chối giám định là hoàn toàn đúng quy định.
+ Hành vi của bị cáo G xảy ra trong trạng thái tinh thần bị kích động nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
+ Một số tài liệu do gia đình bị cáo cung cấp thể hiện: Bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng, bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng một số tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần nội dung kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại, một số người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của những người này tại phiên tòa phúc thẩm không vì lý do bất khả kháng hay trở ngại khách quan, mặt khác cũng có đầy đủ lời khai trong hồ sơ nên căn cứ quy định tại các Điều 292 và 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định xét xử vắng mặt bị hại, người làm chứng.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo G khai trong khi bị cáo và chị X (vợ P) cãi nhau thì P đến có cầm thanh tuýp sắt xông vào vụt G nhiều nhát, G đưa tay trái lên đỡ bị trúng vào mu bàn tay, G ngã ra phía sau đã lấy tấm gỗ dán kích thước để đỡ, sau đó vơ một số đồ ném P. Khi bị P đánh, G có lấy con dao trong thùng đồ đâm về phía P nhiều nhát nhằm mục đích chạy thoát và tự vệ, không chủ định và không cố ý đâm gây thương tích cho P. Lời nói sau cùng, bị cáo xác nhận đã nhận thức được hành vi của mình trong lúc nóng giận nhất thời đã vi phạm pháp luật, nhưng không cố ý gây thương tích cho P, đề nghị được hưởng hình phạt nhẹ nhất.
Xét kháng cáo của bị cáo Lê Bằng G:
[3] Tại cơ quan điều tra cũng như phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đều xác nhận hành vi gây thương tích cho P. Trong nội dung đơn kháng cáo, bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo cho rằng bị cáo không phạm tội Cố ý gây thương tích cho anh Phạm Văn P, một mực kêu oan.
[4] Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, người bào chữa cho bị cáo có đơn đề nghị giám định lại và thực nghiệm lại hiện trường.
[4.1] Xét thấy: Trong quá trình điều tra và tại giai đoạn sơ thẩm, việc thực nghiệm hiện trường đã được tiến hành, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Căn cứ vào lời khai của những người làm chứng, lời khai của người bị hại được thu thập theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, vật chứng thu giữ được, thương tích thực tế để lại trên cơ thể bị hại, phù hợp với kết luận giám định đã thấy đủ chứng cứ để kết luận bị cáo Lê Bằng G đã phạm tội cố ý gây thương tích theo Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, yêu cầu về việc thực nghiệm lại hiện trường là không phù hợp, không có căn cứ xem xét.
[4.2] Đối với Kết luận giám định thương tích đối với bị hại P được thực hiện dựa trên cơ sở hồ sơ thương tích của bị hại. Xét trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phối hợp với Kiểm sát viên, Điều tra viên của cấp sơ thẩm trực tiếp xác minh tại Bệnh viện K và Trung tâm P, xác định được: Ngay sau khi xảy ra sự việc, vào hồi 22 giờ 15 phút ngày 02/8/2022, bị hại P đã đến sơ cứu tại Bệnh viện K và chiếu chụp phim tại đây (trong đó có phim chụp City phổi) với chuẩn đoán thương tích ở lồng ngực, vết thương nông vùng cánh tay phải, vết thương bàn tay trái. Do vết thương nặng, bị hại P đã xin rút toàn bộ phim chụp và chuyển đến Bệnh viện H3 để cấp cứu và nộp những tài liệu này tại Bệnh viện H3. Để phục vụ giám định, Điều tra viên đã thu thập hồ sơ bệnh án tại Bệnh viện H3, trong đó có cả những phim chụp chiếu... của Bệnh viện K và bàn giao đến cơ quan giám định theo đúng trình tự, thủ tục. Giám định viên căn cứ kết quả chụp phim tại Bệnh viện K, phù hợp với kết quả chụp phim, thăm khám trực tiếp bị hại P khi giám định lần đầu theo thủ tục để kết luận về thương tích ở phổi, có sự phù hợp về vị trí thương tích trong 2 lần chụp phim, nên đủ cơ sở kết luận về thương tích này.
[4.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, Giám định viên khẳng định việc giám định pháp y bổ sung về thương tích qua hồ sơ số 644/2022/TgT ngày 22-11-2022 của Trung tâm P, kết luận đối với Phạm Văn P, với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể 33% là hoàn đã đảm bảo đúng quy định và cam đoan chịu trách nhiệm trước pháp luật về công việc cũng như lời trình bày của mình. Đối với việc giám định bổ sung, do bị hại P không hợp tác, không tổ chức giám định trực tiếp được nên đã tiến hành giám định trên hồ sơ bệnh án. Việc kết luận tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể 33% đối với Phạm Văn P đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật, thực hiện đúng quy chế phối hợp liên ngành tại Hải Phòng. Do đó, yêu cầu về giám định lại tổn thương cơ thể đối với Phạm Văn P là không có căn cứ xem xét.
[5] Đối với những bản ảnh chụp là tin nhắn giữa bị cáo G và bị cáo P và USB do vợ bị cáo G cung cấp cho rằng nội dung ghi âm lại quá trình làm tại cơ quan cảnh sát điều tra tại Công an quận D, thành phố Hải Phòng. Xét thấy các tài liệu này do vợ bị cáo G tự cung cấp, không có căn cứ thể hiện nội dung trong USB được thực hiện trong quá trình hỏi cung tại cơ quan điều tra; mặt khác USB và các bản ảnh này không được thu thập theo trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015nên không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.
[6] Tình tiết định tội danh:
[6.1] Tại cơ quan điều tra cũng như phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Bằng G đều thừa nhận hành vi đã dùng dao đâm P khi bị P đánh trước ở trong gian hàng, G lấy được con dao đâm về phía Phúc nhằm mục đích chống trả, chạy thoát, không cố ý gây thương tích cho P. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của các bị cáo, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 02/8/2022, do trước đó có mâu thuẫn từ việc bán hàng giữa G và chị X (vợ P), tại cổng Công ty S2 ở tổ F phường H, quận D, thành phố Hải Phòng giữa P và G có xảy ra xô xát, sau đó đều dùng hung khí gây thương tích cho nhau. Bị cáo P dùng tuýp sắt cầm ở tay phải vụt nhiều nhát về phía G, trong đó có một nhát vào mu bàn tay trái G làm tổn thương cơ thể là 22%. Khi bị P tấn công trước bằng tuýp sắt, G đã dùng tấm phản gỗ che chắn, ném nhiều đồ vật về phía P và dùng dao chống trả. Thời điểm xảy ra vụ án, có nhiều công nhân tan ca, nhiều người can ngăn và còn nhiều lựa chọn khác để phòng vệ trước hành vi tấn công của P nhưng G đã lựa chọn dùng dao nhọn là hung khí nguy hiểm chống trả lại và đâm nhiều nhát vào người P, trong đó có một nhát vào vùng mạng sườn bên phải, 01 nhát trúng vào cánh tay phải, 01 nhát trúng bàn tay trái của P gây thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể là 33%. Khi P bị G đâm và bỏ chạy, G còn tiếp tục rút tuýp sắt đuổi đánh P. Do đó, hành vi của Lê Bằng G dùng dao đâm Phạm Văn P gây thương tích được xác định là thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo G và P gây thương tích cho nhau đã thỏa mãn cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo Điều 134 Bộ luật Hình sự. Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, hành vi phạm tội, cũng như xem xét đầy đủ về nhân thân và tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Lê Bằng G trong khung hình phạt là tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo G về hành vi cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai.
[6.2] Tại giai đoạn phúc thẩm, gia đình bị cáo G giao nộp bổ sung tài liệu thể hiện: Bố đẻ bị cáo G là người có công với cách mạng, sau phiên tòa sơ thẩm bị cáo G đã tích cực tác động gia đình bồi thường cho bị hại P số tiền là 20.000.000 đồng, bị hại P xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Như vậy, nếu không cố ý gây thương tích cho bị hại P thì bị cáo G đã không tác động gia đình bồi thường cho bị hại P số tiền 20.000.000 đồng. Tuy nhiên, do bị cáo G chỉ kháng cáo kêu oan, bị cáo không xin giảm nhẹ hình phạt nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ xem xét lại một phần quyết định của Tòa án sơ thẩm liên quan đến nội dung kháng cáo kêu oan của bị cáo G; Hội đồng xét xử không xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên không áp dụng cho bị cáo thêm tình tiết mới giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Xét nội dung của người bào chữa cho bị cáo: Như đã phân tích tại mục [6], Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về hành vi Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo và người bào chữa nhiều lần yêu cầu tiến hành thực nghiệm lại hiện trường, giám định lại thương tích đối với bị hại P, tuy nhiên, không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho việc thực nghiệm và giám định thương tích là không đúng quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét đối với những yêu cầu này.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát và Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo về việc xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết phạm tội trong tình trạng tinh thần bị kích động, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Bằng G thừa nhận hành vi đã dùng dao đâm P khi bị P đánh trước ở trong gian hàng nhưng vẫn một mực kêu oan. Thời điểm xảy ra vụ án, bị cáo có nhiều lựa chọn khác để phòng vệ trước hành vi tấn công của P nhưng G đã lựa chọn dùng dao nhọn là hung khí nguy hiểm chống trả lại và đâm nhiều nhát vào người P, trong đó có một nhát vào vùng mạng sườn bên phải, 01 nhát trúng vào cánh tay phải, 01 nhát trúng bàn tay trái của P gây thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể là 33%. Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận nội dung đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát và của Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo.
[9] Từ những phân tích nên trên, xét thấy không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo kêu oan của bị cáo Lê Bằng G, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[10] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.
[11] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Bằng G; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2023/HSST ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.
2. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Bằng G 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/12/2022.
3. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Bằng G phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2023/HSST ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thu Hằng |
Bản án số 180/2023/HS-PT ngày 29/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 180/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Bằng G phạm tội Cố ý gây thương tích
