Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 180/2024/HSST

Ngày: 29-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tống Thị Kim Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Thắng

Bà Phạm Thị Loan

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố

Nam Định tỉnh Nam Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên

tòa: Ông Phạm Bá Hiệp - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 178/2024/TLST-HS ngày 14-8-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2024/QĐXXST-HS ngày 16-8-2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Hoàng M, sinh ngày 18-5-1990; nơi sinh: tỉnh Nam Định; căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: Số nhà F đường H, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đức T (đã chết) và bà Trịnh Thị N; vợ Chu Thị Thu H (đã ly hôn); có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 23-5-2024, chuyển tạm giam từ ngày 01-6-2024; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N; có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: anh Hoàng Quang Đ, ông Phạm Minh Đ1 (không triệu tập tham gia phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 23-5-2024 tổ công tác Công an tỉnh N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa Ttrường Trung học phổ thông Nguyễn H1, địa chỉ số C đường N, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện Lê Hoàng M đang dừng xe máy biển kiểm soát 18N1-6860 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra; M tự giác lấy từ trong túi quần đùi bên phải đang mặc ra giao nộp 01 túi ni long màu trắng kích thước khoảng (2x2)cm, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (M khai là ma túy đá mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng (ký hiệu M) và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Hoàng M. Ngoài ra, tạm giữ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda XRS Wave màu trắng, xám đen, biển kiểm soát 18N1-6860 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng trắng, màn hình bị nứt vỡ, đều đã cũ.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tiến hành thu giữ mẫu nước tiểu của Lê Hoàng M, niêm phong ký hiệu M1.

Bản kết luận giám định số 977/KL-KTHS ngày 27-5-2024 Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước khoảng (2x2)cm, được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu M: 0,314 (không phảy ba trăm mười bốn) gam.

Bản kết luận giám định số 976/KL-KTHS ngày 29-5-2024 Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Có tìm thấy thành phần chất Methamphetamine trong 01 (một) mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Hoàng M tại số nhà F đường H, thành phố N, tỉnh Nam Định không thu giữ gì.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Hoàng M khai: Khoảng 15 giờ ngày 23-5-2024, M điều khiển xe máy biển kiểm soát 18N1 - 6860 đến khu vực đường H, phường N, thành phố N gặp một người phụ nữ (không biết tên, tuổi, địa chỉ) mua 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng, M cất túi ma túy đá vào trong túi quần đùi bên phải đang mặc, điều khiển xe đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Bản cáo trạng số 182/CT-VKSND-TPNĐ ngày 13-8-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Lê Hoàng M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Hoàng M khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Lê Hoàng M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Lê Hoàng M từ 21 tháng đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng đã thu giữ.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Hoàng M không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
  2. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo Lê Hoàng M, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định số 977/KL-KTHS ngày 27-5-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 23-5-2024, tại khu vực trước cửa Trường Trung học phổ thông N1, địa chỉ số C đường N, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định, Lê Hoàng M đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,314 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
  3. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là loại chất gây nghiện Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; hành vi của bị cáo là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
  4. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Lê Hoàng M không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  5. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Số ma túy sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 01 mẫu nước tiểu tịch thu, tiêu hủy. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng vàng là tài sản của bị cáo; xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
  6. Chiếc xe máy nhãn hiệu nhãn hiệu Honda XRS Wave màu trắng xám biển kiểm soát 18N1 - 6860 là tài sản của anh Trần Đăng K, sinh năm 1980, địa chỉ số A đường N, phường T, thành phố N. Anh K không biết M mượn xe đi mua ma túy sử dụng nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N trả lại xe cho anh K là đúng quy định của pháp luật.
  7. Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
  8. Về án phí: Bị cáo Lê Hoàng M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Lê Hoàng M 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 23-5-2024.

  3. Biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 977/KL-KTHS và 01 mẫu nước tiểu trong phong bì niêm phong số 976/KL-KTHS. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng vàng đã cũ được niêm phong trong túi mã số NS3.2145167 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 16-8-2024).
  4. Án phí: Bị cáo Lê Hoàng M phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo Lê Hoàng M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định;
  • - Công an TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên)

Tống Thị Kim Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2024/HSST ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 180/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hoàng Minh - TTMT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger