Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 180/2024/HS-ST

Ngày: 29 – 7 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Anh Thi.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Thành Sơn.

Ông Thái Văn Trung.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sao Mai, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 209/2024/TLST-HS ngày 16/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2024/QĐXXST-HS ngày 19/7/2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Hoàng T (tên gọi khác: Ú), sinh năm 1995 tại tỉnh Bình Dương; Nơi thường trú: Tổ A, ấp Đ, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn G và bà Phạm Thị Q;

Tiền án:

Bản án số 16/2014/HSST ngày 20/12/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/7/2015 nhưng chưa xóa án tích do chưa bồi thường cho bị hại.

Bản án số 104/2016/HSST ngày 20/12/2016 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/5/2017, chưa xóa án tích do chưa bồi thường cho bị hại.

Tiền sự: Ngày 03/01/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng (chưa chấp hành).

Nhân thân: Bản án số 58/2019/HSST ngày 15/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/11/2021 (đã xóa án tích).

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/01/2024 cho đến nay. Có mặt.

2. Huỳnh Văn H, sinh năm 1993 tại tỉnh An Giang; Nơi thường trú: Áp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn T1 và bà Lê Thị H1; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/01/2024 cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Xuân V, trú tại: 1 M, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 20/01/2024, Công an phường A kết hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế ma túy Công an thành phố T tuần tra đoạn đường ĐT743B thuộc khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì thấy Huỳnh Văn H điều khiển chiếc xe mô tô biển số 65H4-4231 chở Lê Hoàng T có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, T lấy trong túi quần bên phải ra 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng giao nộp nên tiến hành thu giữ, mời về trụ sở Công an phường A làm việc thì H và T khai nhận vào khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô nói trên chở T chạy đến trước nhà số B, khu phố A, phường A, thành phố T để mua chó. Trên đường đi, H nói cho T biết nơi mua chó có người bán ma túy, T nói với H để T mua một ít về để sử dụng. Khi đến nơi, có đối tượng tên Cù L giao con chó cho H, còn T hỏi mua 01 gói ma túy thì Cù L lấy ma túy bán cho T với giá 300.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu River, biển số: 65H4-4231.

Theo Kết luận giám định số 580(620)/KL-KTHS (MT) ngày 27/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 túi nylon miệng kéo dính là ma túy, loại Methamphetamine tổng khối lượng 0,3421 gam.

Cáo trạng số 192/CT-VKS-TA ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Lê Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và bị cáo Huỳnh Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt:

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Hoàng T từ 06 đến 07 năm tù.

Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Tịch thu, tiêu hủy 0,2693 gam ma túy còn lại sau giám định chứa trong 01 bì thư được niêm phong số 580/PC09 của Phòng K Công an tỉnh B.

Giao xe mô tô nhãn hiệu River, biển số: 65H4-4231 cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T để tiếp tục xác minh, xử lý.

Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của Cáo trạng truy tố, không thắc mắc hay khiếu nại gì. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo Lê Hoàng THuỳnh Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 20/01/2024, sau khi mua ma túy, bị cáo Huỳnh Văn H điều khiển xe mô tô biển số 65H4-4231 chở bị cáo Lê Hoàng T đang cất giấu số ma túy này lưu thông đến đoạn đường ĐT743B thuộc khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị phát hiện cùng tang vật, theo Kết luận giám định thì loại ma túy các bị cáo cất giấu là Methamphetamine, có khối lượng 0,3421 gam. Bị cáo Lê Hoàng T có 02 tiền án, chưa được xóa án tích nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hành vi của bị cáo bị cáo Huỳnh Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì thỏa mãn nhu cầu của bản thân, các bị cáo rủ rê nhau đi mua ma túy về tàng trữ để cùng nhau sử dụng. Hành vi của các bị cáo đã vi phạm quy định về chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, lỗi của các bị cáo là cố ý trực tiếp, do đó cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về đồng phạm: Trong vụ án có đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công cụ thể. Tuy nhiên, bị cáo T nhiều lần bị Tòa án xử phạt về hành vi phạm tội, quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thể hiện bản chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn nên phải chịu mức án cao hơn.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

[7] Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

[8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Đối với 0,2693 gam ma túy còn lại sau giám định chứa trong 01 bì thư được niêm phong, bên ngoài ghi số vụ 580/PC09 của Phòng K Công an tỉnh B cần tịch thu, tiêu hủy. - Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu River, biển số: 65H4-4231, số khung VHTPCH032HT-016980, số máy VPJL1P53FMH-020190 do Huỳnh Văn H sử dụng, hiện chưa rõ nguồn gốc nên giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

[9] Đối tượng tên Cù Là bán ma túy cho các bị cáo hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm o khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 47, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lê Hoàng T.
  • - Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 47, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Huỳnh Văn H.
  • - Các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng THuỳnh Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt các bị cáo:

1.1 Lê Hoàng T 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 21/01/2024.

1.2 Huỳnh Văn H 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ bị bắt tạm giữ, tạm giam 21/01/2024.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • - Tịch thu, tiêu hủy 0,2693 gam ma túy còn lại sau giám định chứa trong 01 bì thư niêm phong, bên ngoài ghi số vụ 580/PC09 của Phòng K Công an tỉnh B.
  • - Giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T: 01 xe mô tô 02 bánh (kiểu dáng Wave) nhãn hiệu, số loại: Không rõ, mang biển kiểm soát: 65H4-4231, có: số khung VHTPCH032HT-016980, số máy VPJL1P53FMH-020190 để tiếp tục xác minh, xử lý.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

3. Về án phí:

Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương
  • - VKSND, CA T.P Thuận An;
  • - Chi cục THADS T.P Thuận An;
  • - Chánh án (để báo cáo);
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác
  • - Lưu HS, THAHS, AV;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 180/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng T và Huỳnh Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger