Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 180/2024/DSST

Ngày: 29/7/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất,

hợp đồng tín dụng, hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Mai
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
    • 1. Ông Võ Hoàng Vũ
    • 2. Bà Hồ Thị Kim Luyến
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Võ An Trinh – Thư ký Toà án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Tô Văn Tông – Kiểm sát Viên

Trong ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 263/2023/TLST- DS ngày 24 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tín dụng, hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 427/2024/QĐXX-ST ngày 18 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc Việt H

Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ

Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Văn H1

Địa chỉ: H đường P, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

2. Ông Lê Văn V

3. Bà Nguyễn Thanh N

Cùng địa chỉ: 2 M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

4. Ngân hàng TMCP P

Địa chỉ: 41 và D L, P. B, quận A, TP

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Liêu Thái H2

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Văn phòng C

Địa chỉ: C N, phường A, Quận N, thành phố Cần Thơ.

2. Văn phòng C1

Địa chỉ: 157A Quốc lộ I, khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

(Nguyên đơn có mặt, các đương sự còn lại vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và bản tự khai nguyên đơn – ông Nguyễn Quốc Việt H trình bày:

Ngày 11/10/2021, nguyên đơn với ông Nguyễn Văn H1 có lập biên bản thoả thuận dùng tài sản là quyền sử dụng đất của nguyên đơn, thửa đất số 864, tờ bản đồ số 5, toạ lạc tại khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 04572 cấp ngày 14/02/2017 do Ủy ban nhân dân quận T cấp, chỉnh lý ngày 07/4/2017 và ngày 20/4/2017, uỷ quyền cho ông H1 thế chấp ngân hàng để vay vốn 1,1 tỷ đồng, phần nguyên đơn vay 800 triệu, phần ông H1 vay 300 triệu, phần của ai thì người đó chịu trách nhiệm đóng lãi và trả nợ.

Đến ngày 13/10/2021, ông H1 kêu nguyên đơn lập văn bản uỷ quyền cho ông H1 02 thửa đất số 1674, tờ bản đồ số 5 và thửa đất 864, tờ bản đồ số 5 để ông H1 thực hiện thủ tục vay vốn như thoả thuận. Thế nhưng, ông H1 dùng chính văn bản uỷ quyền này đem đi chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Lê Văn V và ông Việt thế chấp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ngân hàng TMCP P vay số tiền 1.300.000.000 đồng là trải với thoả thuận với nguyên đơn. Khi ông Nguyễn Văn H1 nhận tiền từ ngân hàng về đưa cho nguyên đơn 02 lần tổng cộng 800.000.000đồng (lần 1 là 300.000.000đồng, lần 2 là 500.000.000 đồng), một thời gian sau nguyên đơn mới phát hiện ông H1 đã làm thủ tục chuyển nhượng cho ông V, nguyên đơn có yêu cầu ông H3 thực hiện thủ tục trả lại đất thì ông H3 có thực hiện thủ tục trả lại thửa đất 1654, tờ bản đồ số 5, còn lại thửa đất 864, tờ bản đồ số 5 thì đến nay ông H1 chưa thực hiện thủ tục trả lại Giấy chứng nhận cho nguyên đơn.

Ngày 21/10/2021, ông H1 có ký hợp đồng vay tài sản với nguyên đơn tại Văn phòng công chứng 24h với số tiền 550.000.000đồng trong đó bao gồm 500.000.000đồng tiền ông H1 vay ké vào tài sản thế chấp vay ngân hàng và 50.000.000đồng các loại chi phí liên quan đến việc làm thủ tục vay mượn, đi lại; ông H1 thỏa thuận sẽ tự đóng tiền lãi cho Ngân hàng trên số tiền 500.000.000đồng, số tiền nguyên đơn có trách nhiệm đóng lãi cho Ngân hàng là 800.000.000đồng. Hàng tháng nguyên đơn đã gửi tiền để ông H1 đóng lãi đầy đủ tại Ngân hàng. Tuy nhiên, từ cuối năm 2022 ông H1 đã không đóng lãi cho Ngân hàng, nguyên đơn điện thoại, tìm gặp ông H1 nhưng không được nên khởi kiện yêu cầu:

  1. Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng uỷ quyền số công chứng 5883, quyền số 07/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/10/2021 tại Văn phòng C và tuyên bố vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 4505, quyển số 01/2021/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/10/2021 tại Văn phòng C1.
  2. Tuyên bố vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0224/2021/BĐ ngày 20/10/2021 giữa ông Lê Văn V, bà Nguyễn Thanh N với Ngân hàng TMCP P, số công chứng 5953 quyển số 03/2021/TP/CC-SCC/HĐGD
  3. Yêu cầu ông Nguyễn Văn H1, ông Lê Văn V, bà Nguyễn Thanh NNgân hàng TMCP P có trách nhiệm trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 04572 cấp ngày 14/02/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp, chỉnh lý ngày 07/4/2017 và ngày 20/4/2017. Thửa đất số 864, tờ bản đồ số 5, đất toạ lạc tại khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

Đồng thời, nguyên đơn sẽ thanh toán số tiền nợ gốc 800.000.000 đồng và lãi phát sinh cho Ngân hàng TMCP P1.

Ngày 10/6/2024, nguyên đơn có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Buộc ông Nguyễn Văn H1 trả cho nguyên đơn số tiền gốc là 550.000.000đồng theo hợp đồng vay ngày 21/10/2021 và tiền lãi từ ngày 01/01/2023 cho đến khi ông H1 trả xong nợ với mức lãi suất là 1%/tháng. Các yêu cầu còn lại theo đơn khởi kiện trước đây thì ông không yêu cầu nữa do giữa ông với ông V, bà NNgân hàng TMCP P đã thỏa thuận giải quyết với nhau, theo đó ông trả toàn bộ số nợ do ông V, bà N đứng tên vay theo yêu cầu của ông H1, Ngân hàng đã giải chấp tài sản và ông V, bà N đã ký tên chuyển nhượng lại tài sản cho ông.

Bị đơn ông Lê Văn V trình bày: Ông và ông Nguyễn Văn H4 là bạn bè. Vào tháng 10/2021, ông H1 nhờ vợ chồng ông đứng tên trên 2 thửa đất của chủ đất cũ là ông Nguyễn Quốc V1 H để vay số tiền 1,3 tỉ đồng tại Ngân hàng TMCP P, chi phí, thủ tục và đóng lãi ngân hàng là bên ông H4 đứng ra lo. Ông H1 hữa sẽ đưa cho vợ chồng ông tiền hoa hồng là 50.000.000 đồng. Khoảng cuối năm 2021, ông H1 kêu ông ký chuyển trả lại cho ông H 1 thửa đất. Mọi thủ tục giấy tờ ông không trực tiếp làm, ông H1 kêu vợ chồng ông ký giấy tờ gì thì vợ chồng ông ký. Tuy nhiên, cho đến nay ông H1 vẫn chưa đưa tiền hoa hồng như đã hứa cho ông, mặc dù là bạn bè và gần nhà nhưng ông H1 né tránh, gọi điện thì nói 1-2 câu rồi kêu mắc đi công chuyện. Cho đến gần đây ông mới biết được ông H. ông H có trao đổi với ông việc ông H lo trả nợ cho ngân hàng và vợ chồng ông làm thủ tục sang tên lại cho ông H, bản thân ông cũng muốn nhận được sở tiền công mà ông H1 đã hứa là 50.000.000 đồng nên nói ông H dưa cho ông số tiền này thì ông sẽ ký chuyển nhượng lại nhưng ông H không đồng ý. Nay ông H khởi kiện ra Tòa thì bản thân ông cũng muốn các bên giải quyết cho ổn thỏa, ông không yêu cầu tiền công nữa. Nếu ông H trả hết số tiền mà ông H1 làm thủ tục cho ông đứng tên vay tại Ngân hàng TMCP P và thế chấp phần đất thuộc thửa số 864, tờ bản đồ số 5, đất toạ lạc tại khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ thì ông sẽ ký chuyển trả cho ông H thửa đất.

Bị đơn Ngân hàng TMCP P trình bày:

Ngân hàng TMCP P với ông Lê Văn V và bà Nguyễn Thanh N đã thỏa thuận ký kết Hợp đồng tín dụng số 0224/2021/HĐTD-OCB-CN ngày 20/10/2021 và Khế ước nhận nợ số 0224/2021/KUNN-OCB-CN ngày 21/10/2021 với số tiền 1.300.000.000đồng, mục đích vay là vay mua bất động sản; Thời hạn vay: 360 tháng; Tài sản bảo đảm cho khoản vay là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất: 864. Tờ bản đồ số: 5. địa chỉ: Khu V L, phường T, quận T, TP . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 844210, số vào số cấp GCN: CS 04572 do Sở T cấp ngày 14/02/2017, cập nhật thay đổi lần cuối ngày 18/10/2021. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ông Lê Văn V và bà Nguyễn Thanh N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ.

Ngày 14/11/2023, Ngân hàng TMCP P có đơn yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

  1. Buộc ông Lê Quốc V2, bà Nguyễn Thanh N trả cho Ngân hàng TMCP P tổng số nợ tạm tính đến ngày 14/7/2023 là 1,403,112,175 đồng. Bao gồm: Nợ gốc là 1.290.623.737 đồng, nợ lãi 112.488.438 đồng, và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 15/7/2023 cho đến khi ông Lê Quốc V2, bà Nguyễn Thanh N hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP P.
  2. Nếu ông Lê Quốc V2, bà Nguyễn Thanh N không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP P được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế, kê biên, phát mãi, xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP P1 theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/6/2024, Ngân hàng TMCP P có đươn rút yêu cầu độc lập đối với ông V2, bà N.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thanh N nhiều lần được Tòa án triệu tập để giải quyết vụ kiện nhưng không có mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với các vấn đề liên quan đến vụ kiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1 trong văn bản số 27/TTT-VP ngày 06/5/2023 trình bày: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 4505, quyển số 01/2021/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/10/2021 giữa bên chuyển nhượng ông Nguyễn Quốc Việt H (do ông Nguyễn Văn H1 đại diện theo ủy quyền) với bên nhận chuyển nhượng ông Lê Văn V đã được Công chứng viên Văn phòng C1 chứng nhận đúng quy định pháp luật. đối với yêu cầu của các bên đề nghị Tòa giải quyết theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng 24h cũng có văn bản đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ kiện.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng do các đương sự không có mặt đầy đủ nên không thống nhất với nhau để giải quyết toàn bộ vụ kiện. Do đó, vụ kiện được đưa ra xét xử.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn ông Nguyễn Quốc Việt H trình bày ông đã trả toàn bộ số nợ tại Ngân hàng TMCP P do ông V và bà N đứng tên vay để giải chấp tài sản, ông V, bà N đã làm thủ tục sang tên lại cho ông và ông cũng đã phải cắt chuyển nhượng một phần tài sản này để lấy tiền trả cho Ngân hàng. Ông xác định giữ nguyên yêu cầu đối với ông Nguyễn Văn H1, buộc ông H1 trả cho ông số tiền nợ gốc là 550.000.000đồng theo hợp đồng vay ngày 21/10/2021 và tiền lãi từ ngày 01/01/2023 cho đến khi ông H1 trả xong nợ với mức lãi suất là 1%/tháng. Các yêu cầu còn lại theo đơn khởi kiện ban đầu, ông không còn yêu cầu nữa.

Bị đơn ông H1, ông V, bà N, đại diện Ngân hàng TMCP P; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng Công chứng 24h, Văn phòng C1 vắng mặt tại phiên tòa.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

- Về tuân theo pháp luật tố tụng: Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn Ngân hàng TMCP P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Bị đơn ông Nguyễn Văn H1, ông Lê Văn V, bà Nguyễn Thanh N chưa thực hiện nghiêm túc theo giấy triệu tập của Tòa án.

- Về giải quyết vụ án:

Nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do ông H1 đại diện ký chuyển nhượng cho ông V; hợp đồng thế chấp tài sản giữa ông V, bà N với Ngân hàng TMCP P; không yêu cầu đòi ông V, bà N, ông H1Ngân hàng TMCP P trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Ngân hàng TMCP P có đơn xin rút đơn yêu cầu độc lập đối với ông V và bà N nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu nêu trên.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn đối với ông H1 có đầy đủ tài liệu chứng cứ như hợp đồng vay tài sản được công chứng, chứng thực; có văn bản thỏa thuận giữa nguyên đơn với ông H1 cũng như lời trình bày của Ngân hàng TMCP P và ông Lê Văn V nên yêu cầu này là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Ông Nguyễn Quốc Việt H khởi kiện ông Nguyễn Văn H1, ông Lê Văn V, bà Nguyễn Thanh NNgân hàng TMCP P liên quan đến tài sản là quyền sử dụng đất của ông được ông H1 chuyển nhượng cho ông V và ông V, bà N thế chấp vay tiền tại Ngân hàng TMCP P, Ngân hàng TMCP P có yêu cầu độc lập đối với ông Lê Văn V, bà Nguyễn Thanh N đối với hợp đồng tín dụng đã ký nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tín dụng, hợp đồng vay tài sản”. Tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Lê Văn V, ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thanh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do; đại diện Ngân hàng TMCP P, Văn phòng C, Văn phòng C1 có đề nghị được vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ kiện nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[2] Ngân hàng TMCP P có đơn xin rút yêu cầu độc lập đề ngày 05/6/2024 đối với ông Lê Văn V và bà Nguyễn Thanh N nên đình chỉ xét xử đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP P.

[3] Ngày 10/6/2024, nguyên đơn có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, không yêu cầu tuyên bố vô hiệu Hợp đồng uỷ quyền số công chứng 5883, quyền số 07/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/10/2021; không yêu cầu vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0224/2021/BĐ ngày 20/10/2021 giữa ông Lê Văn V, bà Nguyễn Thanh N với Ngân hàng TMCP P; không yêu cầu ông Nguyễn Văn H1, ông Lê Văn V, bà Nguyễn Thanh NNgân hàng TMCP P trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 844210, số vào số CS 04572 cấp ngày 14/02/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp nên đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu này.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông H1 trả số tiền nợ gốc là 550.000.000đồng theo hợp đồng vay ngày 21/10/2021 và tiền lãi từ ngày 01/01/2023 cho đến khi ông H1 trả xong nợ với mức lãi suất là 1%/tháng.

Qua phần trình bày của nguyên đơn, các bị đơn và tài liệu chứng cứ đủ cơ sở xác định giữa nguyên đơn và ông Nguyễn Văn H1 có thỏa thuận, ông H ủy quyền cho ông H1 dùng tài sản của mình là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhất số CS 04572 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 14/02/2017 để thế chấp vay tiền tại Ngân hàng, ông H sẽ nhận số tiền 800.000.000đồng và ông H1 vay ké với số tiền 300.000.000đồng, tiền lãi của ai người đó có trách nhiệm trả cho ngân hàng. Theo đó, ông H1 ký chuyển nhượng cho ông V và ông V, bà N đứng tên vay tiền giùm ông H1 để nhận tiền công. Tuy nhiên số tiền vay đối với tài sản thế chấp của ông H là 1.300.000.000đồng. Ông H biết nên giữa ông H và ông H1 làm hợp đồng vay tài sản ngày 21/10/2021, theo đó ông H1 xác định số tiền ông H1 vay của ông H là 550.000.000đồng. Sau đó, hàng tháng ông H sẽ gửi tiền cho ông H1 để trả tiền lãi cho ngân hàng như đã thỏa thuận. Tuy nhiên, theo ông H trình bày thì khoảng cuối năm 2022 dù ông chuyển tiền cho ông H1 để trả lãi như thông thường nhưng ông H1 không thực hiện nên khoản nợ vay do ông V, bà N đứng tên thành nợ xấu, ông H đã liên hệ với Ngân hàng để thanh toán tiền lãi cho toàn bộ khoản vay và liên hệ với ông H1 để giải quyết nhưng ông H1 lẩn tránh nên ông khởi kiện tại Tòa án. Tòa án cũng mời làm việc nhiều lần nhưng ông H1 không có mặt để giải quyết. Để tránh món nợ tại Ngân hàng để lâu sẽ phải chịu tiền lãi cao do bị phạt nên ông H đã đứng ra thanh toán toàn bộ khoản nợ vay gốc là 1.300.000.000đồng, tiền lãi, lãi phạt và các loại phí liên quan đến hợp đồng tín dụng do ông V, bà N đứng tên và tài sản thế chấp khoản vay là của ông H; ông V, bà N cũng đã thực hiện thủ tục chuyển trả lại tài sản theo yêu cầu của ông H. Việc ông H1 không thực hiện đúng thỏa thuận giữa hai bên đã ảnh hưởng và gây thiệt hại cho ông H. Do đó, ông H yêu cầu ông H1 trả lại số tiền vay cho ông và tiền lãi tính từ ngày 01/01/2023 với mức lãi suất 1%/tháng cho đến khi ông H1 thanh toán hết nợ là hoàn toàn phù hợp. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông H có cơ sở chấp nhận.

Tiền lãi tính từ ngày 01/01/2023 đến ngày xét xử (29/7/2024) là:

550.000.000đồng x 1%/tháng x 18 tháng 28 ngày = 104.133.133đồng.

Như vậy, tổng cộng gốc lãi ông H1 có trách nhiệm trả cho ông H tính đến ngày 29/7/2024 là 654.133.133đồng.

[5] Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ngân hàng TMCP P phải chịu 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) – Đã thực hiện xong

[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định. H5 lại tiền tạm ứng án phí cho ông Nguyễn Quốc Việt HNgân hàng TMCP P.

[7] Ý kiến phát biểu nhận xét của Kiểm sát viên về việc chấp hành Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, các đương sự và đề nghị nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 227, Điều 244, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng các Điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự;
  • - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên án:

  1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn về việc:
    1. Yêu cầu tuyên bố vô hiệu Hợp đồng uỷ quyền số công chứng 5883, quyền số 07/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/10/2021 tại Văn phòng C và tuyên bố vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 4505, quyển số 01/2021/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/10/2021 tại Văn phòng C1.
    2. Yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0224/2021/BĐ ngày 20/10/2021 giữa ông Lê Văn V, bà Nguyễn Thanh N với Ngân hàng TMCP P.
    3. Yêu cầu ông Nguyễn Văn H1, ông Lê Văn V, bà Nguyễn Thanh NNgân hàng TMCP P trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 04572 cấp ngày 14/02/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp, chỉnh lý ngày 07/4/2017 và ngày 20/4/2017.
  2. Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

    Buộc ông Nguyễn Văn H1 trả cho ông Nguyễn Quốc V1 H số tiền 654.133.133đồng (Sáu trăm năm mươi tư triệu một trăm ba mươi ba nghìn một trăm ba mươi ba đồng); trong đó nợ gốc là 550.000.000đồng, nợ lãi là 104.133.133đồng và tiền lãi phát sinh với mức lãi suất 1%/tháng từ ngày 30/7/2024 trên số nợ gốc (550.000.000đồng) cho đến khi thanh toán hết nợ.

  3. Đình chỉ giải quyết yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP P đối với ông Lê Văn V và bà Nguyễn Thanh N.
  4. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ngân hàng TMCP P phải chịu 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) – Đã thực hiện xong.
  5. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Nguyễn Văn H1 phải chịu 30.165.000đồng (Ba mươi triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) – Đã làm tròn số.

    H5 lại cho ông Nguyễn Quốc V1 H Hồng tiền tạm ứng án phí đã nộp: số tiền 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000886 ngày 31/3/2023 và 6.000.000đồng (Sáu triệu đồng) theo biên lai thu số 0001471 ngày 13/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

    H5 lại cho Ngân hàng TMCP P 27.046.000đồng (Hai mươi bảy triệu không trăm bốn mươi sáu nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000559 ngày 20/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

  6. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q. Ninh Kiều;
  • - CCTHADS Q. Ninh Kiều;
  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2024/DSST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tín dụng, hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 180/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tín dụng, hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc Việt H khởi kiện Nguyễn Văn H1, Lê Văn V, Nguyễn Thanh N, Ngân hàng TMCP P yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger