Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG THÀNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 180/2024/HS-ST.

Ngày: 29 - 7 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ngẫu.

Ông Nguyễn Ngọc Duy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Xuân Lâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lương Duy Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 159/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Hoài P, sinh năm 1987 tại Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống: Số nhà G, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P1 và bà Vũ Thị G; chưa có vợ con.

- Tiền án:

  • + Ngày 18/01/2011, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (Bản án số 04/2011/HSST). Bị cáo chấp hành án phạt tù xong ngày 18/01/2012. Chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự, ngày 27/11/2023 bị cáo được miễn nghĩa vụ thi hành án phần án phí.
  • + Ngày 26/8/2019, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (Bản án số 48/HSST). Bị cáo chấp hành hình phạt xong ngày 11/4/2020. Chưa chấp hành xong phần án phí.

Tiền sự:

Ngày 27/5/2021, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai có Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc (Quyết định số 87/QĐ). Chấp hành tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai từ ngày 31/3/2021 đến ngày 31/8/2022.

- Nhân thân:

  • + Ngày 06/11/2007, bị Công an xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai xử phạt hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • + Ngày 29/02/2008, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999 (Bản án số 40/2008/HSST). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/7/2008, đã nộp tiền án phí ngày 07/4/2008.
  • + Ngày 08/11/2013, Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (Bản án số 04/2011/HSST). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/11/2015, đã nộp tiền án phí ngày 24/9/2014.
  • + Ngày 21/11/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc 20 tháng tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai (theo Quyết định số 72/QĐ). Đến ngày 29/11/2018 có Quyết định được miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/01/2024 và chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện L.

2/ Nguyễn Văn Đ (Đ), sinh năm 1994 tại Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống: Tổ 7, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc T và bà Nguyễn Thị S; chưa có vợ con.

- Tiền án: Không.

Tiền sự:

Ngày 17/6/2022, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai có Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (theo Quyết định số 09/QĐ). Chấp hành tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai từ ngày 04/5/2022 đến ngày 04/10/2023 thì chấp hành xong.

- Nhân thân:

  • + Ngày 09/02/2018, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai có Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 22 tháng kể từ ngày 11/12/2017 (theo Quyết định số 48/QĐ). Chấp hành tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đến ngày 07/3/2019 được Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai ra Quyết định miễn chấp hành thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại.
  • + Ngày 14/12/2019, Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
  • + Ngày 15/9/2020, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai có Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 20 tháng kể từ ngày 27/7/2020 (theo Quyết định số 67/QĐ). Chấp hành tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đến ngày 23/11/2021 thì chấp hành xong.
  • + Ngày 20/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 126/2024/HS-ST (đã có hiệu lực pháp luật).

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/12/2023 về hành vi “Cướp giật tài sản” và chuyển tạm giam cho đến nay, vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử theo Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 20/5/2024 (đã có hiệu lực pháp luật). Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (B) để chờ thi hành án.

- Bị hại: Anh Trần Văn K, sinh năm 1984.

Địa chỉ: ấp C, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Các bị cáo P, Đ có mặt; bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hoài PNguyễn Văn Đ là các đối tượng nghiện ma túy và quen biết nhau tại Trung tâm cai nghiện ma túy vào năm 2022, sau khi về địa phương cả hai vẫn giữ liên lạc. Vào lúc 09 giờ 00 ngày 22/11/2023, Đ đi bộ từ nhà của Đ đến nhà P để chơi. Do không có tiền tiêu xài nên Đ và P cùng rủ nhau tìm kiếm nhà dân có tài sản để sơ hở, không có người trông coi thì trộm cắp tài sản mang bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện ý định, P điều khiển xe mô tô biển số 60B8-636.06 (của mẹ P) từ nhà P chở theo Đ ngồi sau đi đến các khu vực nhà dân thuộc ấp A, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai thì khoảng 11 giờ 59 phút cùng ngày P và Đ phát hiện nhà của anh Trần Văn K không có cổng, không có người trông coi nên P đã điều khiển xe chở Đ đi vào khu vực sân nhà của anh K, dựng xe trước sân và đi vào phía trong. P lấy trộm 01 máy hàn xì hiệu Hồng Ký, màu đỏ rồi để ở trước ba ga xe, còn Đ lấy trộm 01 máy cắt bàn hiệu Makita để ở sau yên xe. Sau đó P điều khiển xe mô tô chở Đ và các tài sản đã trộm cắp được đến một cơ sở thu mua phế liệu (không để bảng hiệu) dọc đường ĐT769 thuộc ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai, bán được số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), cơ sở thu mua phế liệu do Trần Quang N, sinh năm 1988, hộ khẩu thường trú: ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai làm chủ. Sau khi bán tài sản vừa lấy trộm xong, P điều khiển xe mô tô trên chở Đ quay lại nhà anh K để lấy tài sản mang đi bán. P và Đ cùng nhau vào lấy trộm 01 bộ máy xịt thuốc trừ sâu (gồm 01 khung sắt xi, 01 đầu phun, 50m dây phun, 01 mô tơ 2HP) và 01 máy xay thịt tự chế (đặt trên khung sắt của máy xịt thuốc sâu) để lên yên sau xe mô tô. P điều khiển xe mô tô chở Đ ngồi sau giữ máy xịt thuốc sâu và máy xay thịt tiếp tục đi đến cơ sở thu mua phế liệu của ông Trần Quang N bán được số tiền 700.000 đồng (bảy trăm ngàn đồng). Tổng số tiền có được do bán các tài sản trộm cắp là 1.700.000 đồng, P và Đ chia nhau mỗi người 850.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Đến 15 giờ 00 ngày 14/01/2024 P đến Công an xã C, huyện L đầu thú. Riêng Nguyễn Văn Đ, vào ngày 15/11/2023 Đ thực hiện hành vi “Cướp giật tài sản” tại khu phố C, thị trấn T và bị Công an huyện T bắt về hành vi trên vào ngày 20/12/2023.

Vật chứng, tài sản tạm giữ, thu giữ:

  • - 01 xe mô tô biển số 60B8-636.06, đã qua sử dụng;
  • - Các tài sản trộm cắp gồm: 01 bộ máy xịt thuốc trừ sâu nhãn hiệu Sharp, model T1 (gồm 01 khung sắt xi, 01 đầu phun, 50m dây phun, 01 mô tơ 2HP) đã qua sử dụng; 01 máy hàn xì hiệu Hồng Ký, màu đỏ đã qua sử dụng; 01 máy cắt bàn hiệu Makita đã qua sử dụng; 01 máy xay thịt (tự chế) đã qua sử dụng không thu hồi được.

Tại Kết luận định giá số 370/KL-HĐĐGTS ngày 23/11/2023 của Hội đồng định giá tố tụng hình sự huyện L kết luận:

01 bộ máy xịt thuốc trừ sâu trị giá 2.800.000 đồng; 01 máy hàn xì hiệu trị giá 1.550.000 đồng; 01 máy cắt bàn trị giá 2.050.000 đồng; 01 máy xay thịt (tự chế) trị giá 140.000 đồng; Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt: 6.540.000 đồng.

Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập đúng trình tự pháp luật có tại hồ sơ vụ án.

- Tại cáo trạng số 164/CT-VKSLT ngày 19 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Hoài P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015; bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội 02 lần theo quy định tại g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 của Bộ luật hình sự năm 2015. Tình tiết đầu thú được áp dụng đối với bị cáo P theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô biển số 60B8-636.06, đã qua sử dụng do ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1990, hộ khẩu thường trú: F T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (hộ khẩu thường trú lúc đăng ký xe: 145.1/1 ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai) đăng ký đứng tên chủ sở hữu. Khoảng tháng 4/2023, ông Đ1 bán cho bà Vũ Thị G là mẹ đẻ của bị cáo P để làm phương tiện đi lại nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Ngày 22/11/2023, P đã sử dụng xe mô tô nêu trên để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng bà Vũ Thị G không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô nêu trên cho bà Gia.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản không thu hồi được, bị hại yêu cầu bồi thường bằng giá trị định giá, hiện tại các bị cáo chưa bồi thường. Đề nghị tuyên buộc các bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại theo quy định pháp luật.

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự buộc bị cáo P và bị cáo Đ1, mỗi bị cáo nộp lại 850.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ việc bán tài sản trộm cắp mà có.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo P mức án từ 03 năm đến 04 năm tù, bị cáo Đ1 mức án từ 16 tháng đến 20 tháng tù. Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt của hai bản án, buộc bị cáo Đ1 phải chấp hành hình phạt chung.

Ngoài ra trong quá trình điều tra, P khai nhận vào ngày 22/11/2023 có thực hiện hành vi trộm cắp 01 bộ máy xịt thuốc sâu tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Ngày 29/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã có Công văn số 422/CQCSĐT gửi cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Đồng Nai về tin báo tội phạm. Ngày 26/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã có Thông báo về việc tiếp nhận tin báo về tội phạm số 1094/TB-CQĐT-ĐTTH, hiện đang giải quyết nguồn tin về tội phạm nêu trên.

Đối với Trần Quang N là chủ cơ sở thu mua phế liệu, theo lời khai của P thì sau khi trộm cắp được các tài sản nêu trên đã mang đến bán tại cơ sở thu mua phế liệu của ông N, tuy nhiên quá trình làm việc với ông N thì ông N không nhận dạng được P và Đ1, không xác định được việc đã mua lại các tài sản mà P và Đ1 đã trộm cắp hay không nên không đủ căn cứ để xử lý về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo, phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được tại hồ sơ vụ án và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, nên có cơ sở xác định: Nguyễn Hoài PNguyễn Văn Đ là các đối tượng nghiện ma túy, quen biết nhau tại Trung tâm cai nghiện ma túy vào năm 2022, sau khi về địa phương cả hai vẫn giữ liên lạc. Để có tiền tiêu xài cá nhân, vào ngày 22/11/2023 tại ấp C, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai, P và Đ đã 02 lần có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của anh Trần Văn K, cụ thể: lần 1 lấy 01 máy hàn xì hiệu Hồng Ký, màu đỏ, trị giá 1.550.000 đồng và 01 máy cắt bàn hiệu Makita, trị giá 2.050.000 đồng; lần 2 lấy 01 bộ máy xịt thuốc trừ sâu nhãn hiệu Sharp, model T1 (gồm 01 khung sắt xi, 01 đầu phun, 50m dây phun, 01 mô tô 2HP), trị giá 2.800.000 đồng và 01 máy xay thịt (tự chế) trị giá 140.000 đồng. Tổng giá trị tài sản P và Đ chiếm đoạt là 6.540.000 đồng. Những tài sản trên P và Đ đã bán tại cơ sở thu mua phế liệu (không để bảng hiệu) dọc đường ĐT769 thuộc ấp B, xã L, huyện T được số tiền 1.700.000 đồng, P và Đ đã chia nhau tiêu xài cá nhân hết. Đến 15 giờ 00 ngày 14/01/2024 P đến Công an xã C, huyện L đầu thú. Riêng Nguyễn Văn Đ, vào ngày 15/11/2023 thực hiện hành vi “Cướp giật tài sản” tại khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên bị Công an huyện T bắt tạm giam. P đang có tiền án mà lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”, do đó, hành vi của bị cáo P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173, hành vi của bị cáo Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), (gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015) như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Mặc dù các bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, các bị cáo đã bị xử phạt nhiều lần về nhiều hành vi nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên vẫn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhiều lần. Đây là trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng rủ nhau và cùng trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên vai trò của các bị cáo là như nhau. Bị cáo P đang có tiền án, các bị cáo đều có nhân thân xấu. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội. Căn cứ vào hành vi phạm tội, cần áp dụng hình phạt tù để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Đối với bị cáo Đ, áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt của bản án này với Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội 02 lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với bị cáo P và bị cáo Đ theo quy định tại điểm s khoản 1 của Bộ luật hình sự năm 2015; áp dụng tình tiết đầu thú đối với bị cáo P theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô biển số 60B8-636.06 cho bà Vũ Thị G là đúng pháp luật. Còn các tài sản bị chiếm đoạt gồm: 01 bộ máy xịt thuốc trừ sâu, 01 máy cắt bàn, 01 máy hàn xì, 01 máy xay thịt (tự chế) do các bị cáo đã bán đi nên không thu hồi được.

[7] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 buộc các bị cáo P và Đ mỗi bị cáo nộp lại 850.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ việc bán tài sản trộm cắp mà có.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản không thu hồi được, bị hại yêu cầu bồi thường bằng giá trị định giá, hiện tại các bị cáo chưa bồi thường, áp dụng Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, các Điều 587, 589, 591 của Bộ luật dân sự năm 2015 buộc các bị cáo P và Đ phải bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền là 6.540.000 đồng, trong đó mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền là 3.270.000 đồng.

[9] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Ngoài ra trong quá trình điều tra, P khai nhận vào ngày 22/11/2023 có thực hiện hành vi trộm cắp 01 bộ máy xịt thuốc sâu tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai thì Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đang giải quyết nguồn tin về tội phạm.

[11] Đối với Trần Quang N là chủ cơ sở thu mua phế liệu không nhận dạng được P và Đ, không xác định được việc đã mua lại các tài sản mà P và Đ đã trộm cắp hay không nên không đủ căn cứ để xử lý về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[12] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát xét thấy phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài P 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2024.

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ (Đ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2023. Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 03 (ba) năm tù của Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2023.

  3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) buộc bị cáo P và bị cáo Đ mỗi bị cáo nộp lại 850.000 đồng (T2 trăm năm mươi lăm ngàn đồng) tiền thu lợi bất chính.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, các Điều 587, 589, 591 của Bộ luật dân sự năm 2015, buộc bị cáo P và bị cáo Đ phải bồi thường thiệt hại cho bị hại anh Trần Văn K số tiền là 6.540.000 đồng, trong đó mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền là 3.270.000 đồng (Ba triệu hai trăm bảy mươi ngàn đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo P và bị cáo Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND huyện Long Thành;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Long Thành;
  • - Công an huyện Long Thành;
  • - CQ TGTG - Trại tạm giam CATĐN (B5).
  • - Chi cục THADS huyện Long Thành;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thanh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 180/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: dfghj
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger