TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 180/2024/DS-ST Ngày: 27/8/2024 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Cảm
2. Ông Trương Vĩnh Mai
- Thư ký phiên tòa: Ông Y Kăn Niê – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Diễm Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 170/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N
Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng N.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Nhật T – Chức vụ: Giám đốc Phòng G Chi nhánh B - Ngân hàng N (Có mặt).
Địa chỉ: Lô G - 8 chợ P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng Đức H – Sinh năm 1984.
Địa chỉ: Số A đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Phạm Thị H1 – Sinh năm 1969 (Vắng mặt).
Ông Đoàn Thanh M – Sinh năm 1969 (Vắng mặt).
Cùng hộ khẩu thường trú tại: Số A đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phạm Nhật T trình bày:
Vào ngày 15/02/2012, ông Nguyễn Hoàng Đức H có ký Hợp đồng tín dụng số: 5200LAV201201622/HĐTD (Nay là 5219-LAV-201700367) ngày 15/02/2012 với Ngân hàng N - Chi nhánh Đ - Phòng G (Nay là Ngân hàng N - Chi nhánh Đ - Phòng G; Sau đây gọi là ngân hàng) để vay số tiền 250.000.000đồng (Bằng chữ: Hai trăm năm mươi triệu đồng), mục đích vay vốn: Kinh doanh vận tải; thời hạn vay: 12 tháng; lãi suất vay: 19,2%/năm từ ngày 15/02/2012. Khoản vay nói trên được đảm bảo bởi: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba số 2010/249 ngày 25/10/2010 do Văn phòng C Tỉnh Đắk Lắk công chứng giữa bên thế chấp là ông Đoàn Thanh M và bà Phạm Thị H1, bên vay vốn là ông Nguyễn Hoàng Đức H, bên nhận thế chấp là Ngân hàng N - Chi nhánh Đ - Phòng G (Nay là Ngân hàng N - Chi nhánh Đ - Phòng G), bao gồm: Quyền sử dụng đất thửa đất số: 509A; Tờ bản đồ số: 20; diện tích: 240m²; địa chỉ thửa đất: Xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 372440 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 04/03/2010 mang tên bà Phạm Thị H1. Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến hết ngày 15/01/2024, ông Nguyễn Hoàng Đức H còn nợ ngân hàng số tiền là: 396.913.750 đồng, trong đó nợ gốc 250.000.000đồng; Nợ lãi trong hạn 146.913.750 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp, đôn đốc ông Nguyễn Hoàng Đức H thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, ông Nguyễn Hoàng Đức H vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Nay ngân hàng yêu cầu Tòa án tuyên buộc ông Nguyễn Hoàng Đức H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N toàn bộ số tiền tạm tính đến hết ngày 15/01/2024 là: 396.913.750 đồng (Bằng chữ: Ba trăm chín mươi sáu triệu chín trăm mười ba ngàn bảy trăm năm mươi đồng), trong đó nợ gốc là 250.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 146.913.750 đồng; Tuyên buộc ông Nguyễn Hoàng Đức H phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số 5200LAV201201622/HĐTD (Nay là 5219-LAV- 201700367) ngày 15/02/2012, kể từ ngày 16/01/2024 cho đến khi ông Nguyễn Hoàng Đức H trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N. T1 nếu ông Nguyễn Hoàng Đức H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba số 2010/249 ngày 25/10/2010 để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của ngân hàng đề nghị được rút một phần yêu cầu khởi kiện: Đối với yêu cầu Tòa án tuyên nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng N thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Hoàng Đức H để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp ông H đã trả toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng thì ngân hàng có nghĩa vụ phải trả lại cho ông M, bà H1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 372440 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 04/03/2010 mang tên bà Phạm Thị H1.
* Quá trình làm việc tại Tòa án, bị đơn ông Nguyễn Hoàng Đức H trình bày:
Vào ngày 15/02/2012, ông Nguyễn Hoàng Đức H có kí hợp đồng tín dụng với ngân hàng N để vay số tiền 250.000.000 đồng. Mục đích vay kinh doanh vận tải, lãi suất vay 19,2%/năm, thời hạn vay là 12 tháng. Khi vay được thế chấp bằng tài sản của ông Đoàn Thanh M, bà Phạm Thị H1 là thửa đất số 509A, tờ bản đồ số 20 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 372440 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 04/03/2010 mang tên bà Phạm Thị H1. Nay ngân hàng khởi kiện theo thông báo thụ lý số 170 ngày 11/3/2024 thì ông Nguyễn Hoàng Đức H đã nhận được.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Thanh M, bà Phạm Thị H1 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án làm việc nên Tòa án không thể lấy lời khai của bà H1, ông M.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 384 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 292, Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 302, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng N. Buộc ông Nguyễn Hoàng Đức H phải trả cho ngân hàng N số tiền là 396.913.750 đồng (Bằng chữ: Ba trăm chín mươi sáu triệu chín trăm mười ba ngàn bảy trăm năm mươi đồng), trong đó nợ gốc là 250.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 146.913.750 đồng (Tiền lãi tạm tính đến ngày 15/01/2024) và tiếp tục trả lãi kể từ ngày 16/01/2024 cho đến khi ông H thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng. Trường hợp ông H trả hết nợ cho ngân hàng thì ngân hàng phải trả lại cho ông M, bà H1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về án phí và các chi phí tố tụng: Ông H phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng N khởi kiện ông Nguyễn Hoàng Đức H; địa chỉ: Số A đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, đây là tranh chấp Hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên không thể tiến hành các phiên họp này. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị H1, ông Đoàn Thanh M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại các buổi làm việc nên không thể lấy lời khai. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại các phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Hoàng Đức H phải trả số tiền 396.913.750 đồng (Bằng chữ: Ba trăm chín mươi sáu triệu chín trăm mười ba ngàn bảy trăm năm mươi đồng), trong đó nợ gốc là 250.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 146.913.750 đồng (tiền lãi tạm tính đến ngày 15/01/2024) và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số 5200LAV201201622/HĐTD (Nay là 5219-LAV- 201700367) ngày 15/02/2012, kể từ ngày 16/01/2024 cho đến khi ông Nguyễn Hoàng Đức H trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N. Nếu ông Nguyễn Hoàng Đức H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi có bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba số 2010/249 ngày 25/10/2010 để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
[3.2] Về Hợp đồng tín dụng:
Người đại diện của nguyên đơn và bị đơn thống nhất Hợp đồng tín dụng số 5200LAV201201622/HĐTD (Nay là 5219-LAV-201700367) ngày 15/02/2012 giữa ngân hàng N - Chi nhánh Đ - Phòng G (Nay là Ngân hàng N - Chi nhánh Đ - Phòng G) và ông Nguyễn Hoàng Đức H được giao kết trên cơ sở tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật. Nội dung hợp đồng: Ông Nguyễn Hoàng Đức H vay số tiền 250.000.000đồng (Bằng chữ: Hai trăm năm mươi triệu đồng), mục đích vay vốn: Kinh doanh vận tải; thời hạn vay: 12 tháng; lãi suất vay: 19,2%/năm từ ngày 15/02/2012. Ngân hàng đã giải ngân cho ông Nguyễn Hoàng Đức H số tiền 250.000.000 đồng. Trong quá trình vay ông Nguyễn Hoàng Đức H chưa trả được nợ gốc, lãi cho ngân hàng. Ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H trả nợ thì ông H cho rằng ông H vay tiền để ông M, bà H1 sử dụng, đề nghị Tòa án xử lý tài sản thế chấp của ông M, bà H1 để trả nợ cho ngân hàng.
Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng tín dụng được ký kết trên cơ sở tự nguyện giữa ngân hàng và ông H, ông H là người nhận tiền giải ngân. Do đó có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông H phải trả toàn bộ số tiền gốc, lãi còn nợ cho ngân hàng là phù hợp.
[3.3] Về Hợp đồng thế chấp:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba số 2010/249 ngày 25/10/2010 do Văn phòng C Tỉnh Đắk Lắk công chứng, đối với quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của thửa đất số: 509A; Tờ bản đồ số: 20; diện tích: 240m²; địa chỉ thửa đất: Xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 372440 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 04/03/2010 mang tên bà Phạm Thị H1. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm trên cơ sở tự nguyện của bà Phạm Thị H1, ông Đoàn Thanh M, ông Nguyễn Hoàng Đức H và ngân hàng, tuân thủ quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ngân hàng về việc nếu ông Nguyễn Hoàng Đức H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba số 2010/249 ngày 25/10/2010 để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
Trường hợp ông H đã trả toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng thì ngân hàng có nghĩa vụ phải trả lại cho ông M, bà H1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 372440 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 04/03/2010 mang tên bà Phạm Thị H1.
[4] Về chi phí đăng, phát thông báo nhắn tin trên báo đài và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí đăng, phát thông báo nhắn tin trên báo đài là 2.425.000 đồng và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng. Nguyên đơn được nhận lại 2.000.000 đồng tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, 2.425.000 đồng chi phí đăng, phát thông báo nhắn tin trên báo đài sau khi thu được của bị đơn.
[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 19.845.688 đồng.
Hoàn trả lại cho nguyên đơn ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 9.922.844 đồng theo biên lai thu số AA/2023/0005446 ngày 06/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 384 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 292, Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 302, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng N.
Buộc ông Nguyễn Hoàng Đức H phải trả cho ngân hàng N số tiền là 396.913.750 đồng (Bằng chữ: Ba trăm chín mươi sáu triệu chín trăm mười ba ngàn bảy trăm năm mươi đồng), trong đó nợ gốc là 250.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 146.913.750 đồng (Tiền lãi tạm tính đến ngày 15/01/2024) và ông H phải tiếp tục trả lãi kể từ ngày 16/01/2024 cho đến khi ông H thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 5200LAV201201622/HĐTD (Nay là 5219-LAV- 201700367) ngày 15/02/2012 cho Ngân hàng N.
Sau khi ông Nguyễn Hoàng Đức H thanh toán toàn bộ khoản nợ của Hợp đồng tín dụng số 5200LAV201201622/HĐTD (Nay là 5219-LAV- 201700367) ngày 15/02/2012 cho ngân hàng N thì ngân hàng N có nghĩa vụ phải trả lại cho bà Phạm Thị H1, ông Đoàn Thanh M Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 372440 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 04/03/2010 mang tên bà Phạm Thị H1.
Trường hợp ông Nguyễn Hoàng Đức H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ của Hợp đồng tín dụng số 5200LAV201201622/HĐTD (Nay là 5219-LAV- 201700367) ngày 15/02/2012 thì ngân hàng N có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba số 2010/249 ngày 25/10/2010 do Văn phòng C Tỉnh Đắk Lắk công chứng, đối với quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của thửa đất số: 509A; Tờ bản đồ số: 20; diện tích: 240m²; địa chỉ thửa đất: Xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 372440 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 04/03/2010 mang tên bà Phạm Thị H1, để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Về chi phí đăng, phát thông báo trên báo, đài và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bị đơn ông Nguyễn Hoàng Đức H phải chịu chi phí đăng, phát thông báo trên báo, đài là 2.425.000 đồng và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng. Nguyên đơn ngân hàng N được nhận lại 2.000.000 đồng tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, 2.425.000 đồng chi phí đăng, phát thông báo trên báo, đài sau khi thu được của bị đơn ông Nguyễn Hoàng Đức H.
Về án phí: Bị đơn ông Nguyễn Hoàng Đức H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 19.845.688 đồng.
Hoàn trả lại cho nguyên đơn ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 9.922.844 đồng theo biên lai thu số AA/2023/0005446 ngày 06/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 180/2024/DS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 180/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP HĐ TÍN DỤNG
