Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 180/2024/HS-ST

Ngày: 26 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Chí Quang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Đăng Vạn.
  2. Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thế Vinh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công H- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 150/2024/TLST/HSST ngày 28 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Đình P, sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: Số B N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bị cáo chưa có vợ con; Con ông Phạm Đình S, sinh năm 1963 và bà Lương Thị Lệ A, sinh năm 1964.

Tiền án: Ngày 06 tháng 01 năm 2022 Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 10 ngày 06 tháng 01 năm 2022), chấp hành xong hình phạt tù ngày 16 tháng 11 năm 2022.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/7/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. (có mặt)

Người bị hại:

Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1996; Nơi thường trú: 10.03 chung cư M, Đường A, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú hiện nay: 01.10 chung cư M, Đường A, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Công ty TNHH D; Địa chỉ: Số H đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị N.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Phạm Đình S. Địa chỉ: Số B đường N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Ông Trương Thành L, sinh năm 1988; Nơi thường trú: Tổ A, Khu phố F, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú hiện nay: A2.11.06 chung cu Chương Dương, số C Đường A, Khu phố E, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do thiếu tiền tiêu xài và biết một số chung cư còn sơ hở trong việc kiểm tra xe ra vào chung cư nên Phạm Đình P nảy sinh ý định lấy trộm xe gắn máy tại các chung cư bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trong khoảng thời gian từ ngày 18/7/2023 đến ngày 22/7/2023 P đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố T, cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Khoảng 17 giờ ngày 18 tháng 7 năm 2023, P đón xe ôm đi đến chung cư M, Đường A, Khu phố D, phường H, thành phố T. P đi vào hầm giữ xe của chung cư M, đi qua 02 bảo vệ chung cư nhưng không bị hỏi gì, P đi đến khu vực để xe mô tô thì phát hiện xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu đen, biển số 59X3-015.29 của anh Nguyễn Văn T, dựng cùng nhiều xe mô tô khác, P quan sát thấy không có ai để ý nên lấy dây điện mang theo sẵn, đấu mạch điện, nổ máy xe mô tô của anh T. Lợi dụng việc bảo vệ quản lý bãi xe không chú ý, P điều khiển xe chạy ra khỏi chung cư rồi tẩu thoát. Sau khi lấy trộm được xe P điều khiển xe đi về nhà của Nguyễn Minh T1, tại địa chỉ số B V, phường A, Quận A, P nói với T1 vừa mượn xe của bạn, sau đó P chụp hình xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu đen, biển số 59X3- 015.29 đăng lên trang mạng xã hội Facebook “Xe nốp” rao bán với giá 5.000.000 đồng. P đợi một lúc thì có số thuê bao 0799393976 hỏi mua và hẹn giao dịch tại quận T. P điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu đen, biển số 59X3-015.29 đến điểm hẹn thì gặp 02 thanh niên (chưa rõ lai lịch) bán xe, lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ 2: Khoảng 14 giờ ngày 22/7/2023, P đến nhà của T1 để chơi. Tại đây, P nhận được điện thoại của một người phụ nữ gọi điện rủ đến chung cư C, địa chỉ số C đường số A, phường T, thành phố T để mua dâm thì P đồng ý. P nhờ T1 chở đến chung cư C, khi đến nơi P đi bộ vào trong chung cư còn T1 đi về trước. Một lúc sau, P liên lạc với người phụ nữ nhưng không liên lạc được nên P đi bộ ra về, lúc này P nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của người khác và đi bộ xuống bãi để xe của chung cư, quan sát thấy xe mô tô hiệu Honda Winner biển số 74E1-085.85 của anh Trương Thành L, Phong đấu nối dây điện để nổ máy xe rồi đi chậm đến trước thanh chắn của chốt bảo vệ. Lợi dụng phía đối diện có xe đang vào, bảo vệ không để ý nên P điều khiển xe đi ra khỏi bãi xe, điều khiển đi về nhà của T1, dựng xe trước sân rồi chụp hình đăng lên hội “Xe nốp” bán với giá 5.000.000 đồng. T1 hỏi P xe này ở đâu mà có thì P nói mới trộm được. Lúc này, P nhận được điện thoại của một người đàn ông chưa rõ lai lịch, hẹn mua xe nên P điều khiển xe vừa trộm được đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Ngày 27/7/2023, qua truy xét Cơ quan điều tra đưa đối tượng Phạm Đình P về làm việc. Tại Cơ quan điều tra, P khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên, đồng thời tự nguyện giao nộp bộ quần áo mà P mặc khi phạm tội để làm đặc điểm nhận dạng. Việc thực hiện hành vi phạm tội do P thực hiện một mình, không có ai giúp sức, không bàn bạc với T1 và chia tiền do bán được tài sản trộm cắp cho T1.

Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với anh Trần Thanh N1 là bảo vệ trực chốt tại chung cư C xác định, tại ca trực của anh N1 vào đêm 22/7/2023 không phát hiện sự việc mất trộm, đến sáng hôm sau có người báo bị mất trộm tài sản, qua kiểm tra camera an ninh phát hiện vào lúc 21 giờ 45 phút ngày 22/7/2023, lợi dụng sơ hở của anh N1, P thực hiện hành vi lấy trộm tài sản như nêu trên

Kết luận định giá tài sản số 287-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 28/7/2023 và Bản kết luận định giá tài sản số 324- KV3/KL-HĐĐGTS ngày 24/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 59X3-015.29 có trị giá 24.000.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Honda Winer biển số 74E1-085.85 có trị giá 26.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 50.000.000 đồng.

Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn T yêu cầu bồi thường số tiền 23.000.000 đồng, anh Trương Thành L đã nhận số tiền 28.000.000 đồng bồi thường từ Công ty bảo vệ nên không yêu cầu gì thêm, bà Trần Thị N là đại diện cho Công ty bảo vệ yêu cầu bồi thường số tiền 28.000.000 đồng đã bồi thường cho chủ sở hữu.

Tại bản Cáo trạng số 166/CT-VKS-TPTĐ ngày 27/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Phạm Đình P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo Phạm Đình P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thực hiện một mình trộm cắp tài sản như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải.
  • Bị cáo không tự tranh luận, bào chữa.
  • Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Đình P về tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Phạm Đình P, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Phạm Đình P 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Phần trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn T yêu cầu bồi thường số tiền 23.000.000 đồng; Anh Trương Thành L đã nhận số tiền 28.000.000 đồng bồi thường từ Công ty bảo vệ nên không yêu cầu gì thêm; Bà Trần Thị N là đại diện cho Công ty D yêu cầu bồi thường số tiền 28.000.000 đồng đã bồi thường cho chủ sở hữu.

Vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

  • 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, 01 đôi dép xỏ ngón màu xanh;
  • 01 điện thoại Xiaomi Mi M;
  • 01 xe mô tô hiệu Honda Dream biển số 53S9-2545

Đây là các đồ vật tài liệu liên quan đến vụ án nên chuyển Tòa xử lý.

  • 01 USB chứa dữ liệu điện tử là video clip ghi lại diễn biến sự việc, lưu kèm hồ sơ vụ án.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã có Quyết định chuyển vật chứng số 67/QĐ-VKSTĐ ngày 27/3/2023, chuyển các vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức tạm giữ, chờ xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được, có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo Phạm Đình P như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 18/7/2023 đến ngày 22/7/2023 bị cáo P đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố T, cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Khoảng 17 giờ ngày 18 tháng 7 năm 2023, P đón xe ôm đi đến chung cư M, Đường A, Khu phố D, phường H, thành phố T. P đi vào hầm giữ xe của chung cư M, đi qua 02 bảo vệ chung cư nhưng không bị hỏi gì, P đi đến khu vực để xe mô tô thì phát hiện xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu đen, biển số 59X3-015.29 của anh Nguyễn Văn T, dựng cùng nhiều xe mô tô khác, P quan sát thấy không có ai để ý nên lấy dây điện mang theo sẵn, đấu mạch điện, nổ máy xe mô tô của anh T. Lợi dụng việc bảo vệ quản lý bãi xe không chú ý, P điều khiển xe chạy ra khỏi chung cư rồi tẩu thoát. Sau khi lấy trộm được xe P điều khiển xe đi về nhà của Nguyễn Minh T1, tại địa chỉ số B V, phường A, Quận A, P nói với T1 vừa mượn xe của bạn, sau đó P chụp hình xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu đen, biển số 59X3- 015.29 đăng lên trang mạng xã hội Facebook “Xe nốp” rao bán với giá 5.000.000 đồng. P đợi một lúc thì có số thuê bao 0799393976 hỏi mua và hẹn giao dịch tại quận T. P điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu đen, biển số 59X3-015.29 đến điểm hẹn thì gặp 02 thanh niên (chưa rõ lai lịch) bán xe, lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ 2: Khoảng 14 giờ ngày 22/7/2023, P đến nhà của T1 để chơi. Tại đây, P nhận được điện thoại của một người phụ nữ gọi điện rủ đến chung cư C, địa chỉ số C đường số A, phường T, thành phố T để mua dâm thì P đồng ý. P nhờ T1 chở đến chung cư C, khi đến nơi P đi bộ vào trong chung cư còn T1 đi về trước. Một lúc sau, P liên lạc với người phụ nữ nhưng không liên lạc được nên P đi bộ ra về, lúc này P nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của người khác và đi bộ xuống bãi để xe của chung cư, quan sát thấy xe mô tô hiệu Honda Winner biển số 74E1-085.85 của anh Trương Thành L, Phong đấu nối dây điện để nổ máy xe rồi đi chậm đến trước thanh chắn của chốt bảo vệ. Lợi dụng phía đối diện có xe đang vào, bảo vệ không để ý nên P điều khiển xe đi ra khỏi bãi xe, điều khiển đi về nhà của T1, dựng xe trước sân rồi chụp hình đăng lên hội “Xe nốp” bán với giá 5.000.000 đồng. T1 hỏi P xe này ở đâu mà có thì P nói mới trộm được. Lúc này, P nhận được điện thoại của một người đàn ông chưa rõ lai lịch, hẹn mua xe nên P điều khiển xe vừa trộm được đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Kết luận định giá tài sản số 287-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 28/7/2023 và Bản kết luận định giá tài sản số 324- KV3/KL-HĐĐGTS ngày 24/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 59X3-015.29 có trị giá 24.000.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Honda Winer biển số 74E1-085.85 có trị giá 26.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 50.000.000 đồng.

Xét thấy lời khai của bị cáo Phạm Đình P là phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở pháp lý truy xét, kết luận bị cáo P thực hiện hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo P là vi phạm pháp luật, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Trộm cắp tài sản là hành vi phạm tội được pháp luật nghiêm cấm, bị cáo P nhận thức được hành vi của mình là sai trái nhưng vì mục đích tư lợi vẫn cố tình phạm tội nên cần xử lý nghiêm minh bị cáo P nhằm giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đình P thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo Phạm Đình P tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

  • Anh Nguyễn Văn T yêu cầu bồi thường số tiền 24.000.000 đồng. Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 287-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 28/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 59X3-015.29 có trị giá 24.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T.
  • Ông Trương Thành L đã nhận số tiền 28.000.000 đồng bồi thường từ Công ty TNHH D, ông L không yêu cầu gì thêm nên không xét giải quyết;
  • Công ty TNHH D (do bà Trần Thị N làm đại diện) yêu cầu bị cáo P phải bồi thường số tiền 28.000.000 đồng mà công ty đã bồi thường cho chủ sở hữu. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 324-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 24/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận 01 xe mô tô hiệu Honda Winer biển số 74E1-085.85 có trị giá 26.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH D, buộc bị cáo Phạm Đình P phải bồi thường cho công ty số tiền 26.000.000 đồng.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, 01 đôi dép xỏ ngón màu xanh là công cụ liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy;
  • 01 điện thoại Xiaomi Mi M là công cụ liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • 01 xe mô tô hiệu Honda Dream biển số 53S9-2545. Qua xác minh được biết chủ xe là bà Mai Thị T2. Khoảng tháng 3 năm 2021, bà T2 bán xe trên cho ông Phạm Đình S (cha ruột của bị cáo Phạm Đình P) nhưng không làm thủ tục sang tên. Ông S để xe ở nhà thì P lấy xe đi ra ngoài. Ông S không biết việc P sử dụng xe trên làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Hội đồng xét xử xét cần trả xe mô tô hiệu Honda Dream biển số 53S9-2545 cho ông Phạm Đình S vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số NK24/231C ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh)

  • 01 USB chứa dữ liệu điện tử là video clip ghi lại diễn biến sự việc, lưu kèm hồ sơ vụ án.

[6] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đình P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Phạm Đình P: 4 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2023.

3. Về Trách nhiệm dân sự:

  • Buộc bị cáo Phạm Đình P bồi thường cho ông Nguyễn Văn T số tiền 24.000.000 đồng.
  • Buộc bị cáo Phạm Đình P bồi thường cho Công ty TNHH D số tiền 26.000.000 đồng

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, 01 đôi dép xỏ ngón màu xanh;
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại X;
  • Trả lại cho ông Phạm Đình S: 01 xe mô tô hiệu Honda Dream biển số 53S9-2545.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số NK24/231C ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh)

4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Đình P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo phải chịu 2.600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình năm 2015. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt, thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • Bị cáo; Bị hại;
  • VKSND, CA, Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • Cơ quan THA hình sự;
  • VKSND Tp.HCM;
  • Sở Tư pháp Tp.HCM;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Đã ký

Đỗ Chí Quang

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

- Lưu HS.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 180/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Đình P phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger