Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 180/2023/HS-ST

Ngày 21-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Chính và bà Hoàng Thu Hà

Thư ký Tòa án: Bà Bế Thị Na – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 180/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 và Thông báo thay đổi thời gian, địa điểm mở phiên tòa ngày 14/11/2023 đối với các bị cáo:

1. Dương Ngọc L, sinh năm 2000 tại Hải Dương. Nơi cư trú: Số B Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Công H và bà Nguyễn Thị H1; bị cáo chưa có vợ, con; gia đình có hai anh em bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 15/5/2023 bị Công an thành phố H xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (nộp phạt ngày 29/8/2023); bị bắt tạm giam từ ngày 15/5/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Trần Duy B, sinh năm 1996 tại Hải Dương. Nơi thường trú: Khu A, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Số A H, phường Q, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn G và bà Lê Thị M; có vợ là Trần Chi L1 và 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/02/2019 bị Công an thành phố H xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (nộp phạt ngày 01/3/2019); bị bắt tạm giam từ ngày 15/5/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

3. Lê Thị M, sinh năm 1964 tại Hải Dương. Nơi thường trú: Khu A, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Số A H, phường Q, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị Y (đã chết); có chồng là Trần Văn G và 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2006; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 16/02/2023 bị Công an thành phố H xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (nộp phạt ngày 24/02/2023); bị bắt tạm giam từ ngày 15/5/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Những người tham gia tố tụng khác:

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Vũ Minh T, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).

+ Ông Dương Công H, sinh năm 1972; địa chỉ: Số B Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương (có mặt).

- Người làm chứng: Anh Phạm Quang N (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại bản cáo trạng số 169/CT-VKSTPHD ngày 19/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo Dương Ngọc L, Trần Duy B và Lê Thị M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự với căn cứ:

Ngày 03/4/2023 Trần Duy B lên mạng xã hội Facebook liên hệ mua 01 gói ma túy loại cần sa với số tiền 140.000 đồng của đối tượng tên N (không xác định rõ họ, tuổi, địa chỉ cụ thể). B đã nhận ma túy và thanh toán tiền qua hình thức giao hàng chuyển phát nhanh. Sau khi có ma túy, B trao đổi với mẹ là Lê Thị M về việc nếu có người hỏi mua thì B sẽ đưa ma túy để M bán; tiền bán ma túy dùng chi tiêu sinh hoạt gia đình.

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 10/4/2023 Dương Ngọc L đang ở nhà thì nhận được tin nhắn qua ứng dụng Messenger của Vũ Minh T hỏi mua 01 gói cần sa với số tiền 200.000 đồng. L đồng ý bán và hẹn T khi có ma túy sẽ liên lạc và gặp nhau để giao nhận ma túy tại khu vực cầu P thuộc phường T, thành phố H. Khoảng 08 giờ cùng ngày, L đi làm tại siêu thị B1 và sử dụng điện thoại liên hệ với Lê Thị M hỏi mua 01 gói ma túy cần sa với số tiền 200.000 đồng và được M đồng ý. Sau đó M đến quán T1 ở đường T, phường B, thành phố H gặp Trần Duy B lấy 01 gói ma túy cần sa rồi điều khiển xe mô tô biển số 34B3 – 408.69 đi giao ma túy cho L. Khi đến khu vực đường G cạnh quốc lộ E thì M dừng xe nhặt 01 tờ giấy ở ven đường bọc lại gói ma túy và sử dụng điện thoại liên lạc với L để hỏi địa điểm giao ma túy thì L bảo M mang đến khu vực cửa chính siêu thị B1 sẽ có người nhận hộ L. Do phải trông hàng trong siêu thị nên L gặp và nhờ một người bạn mới quen tên H2 (chưa xác định rõ họ, tuổi, địa chỉ cụ thể) và nhờ H2 ra gặp M để nhận đồ giúp nhưng L không nói cho H2 biết đó là ma túy. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày; M đến cửa chính siêu thị B1 thì gặp H2; M đưa cho H2 01 gói được bọc bằng giấy hình tròn, quấn bằng dây nịt và bảo đưa cho L rồi đi về. H2 gặp L và đưa cho L gói cần sa. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày L sử dụng ứng dụng M1 thông báo với T là đã có ma túy và bảo Trọng lên thành phố H để lấy. Khoảng 09 giờ 30 phút; L mang ma túy ra khu vực cầu P để giao cho T. Trên đường đi L lấy một ít cần sa trong gói ra cất vào túi quần để sử dụng sau đó gói lại như cũ để giao cho T. Khi T đến, L giao gói ma túy cho T và nhận số tiền 200.000 đồng do T trả.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/4/2023, Vũ Minh T mang theo gói ma túy đã mua của Dương Ngọc L cất giấu trong cốp xe máy và lưu thông trên đường C thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương thì bị Tổ công tác 151 Công an huyện T trong khi làm nhiệm vụ phát hiện. Qua kiểm tra xác minh, T khai nhận đã mua của Dương Ngọc L nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Hải Dương tiến hành triệu tập làm việc đối với Dương Ngọc L; L xác nhận L mua của Lê Thị M đồng thời còn tự giác giao nộp 01 gói nilon màu trắng kích thước khoảng (8,5x5,0)cm bên trong có chứa thực vật dạng hoa, lá, cành L tự khai là cần sa mua được của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ tại quận H, thành phố Hà Nội vào ngày 17/4/2023 để sử dụng cho bản thân. Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành triệu tập, làm việc với Lê Thị M; M xác nhận số ma túy là do M lấy của con trai là Trần Duy B. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Hải Dương đã bàn giao hồ sơ vụ việc để Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H giải quyết theo thẩm quyền. Vụ án được tiến hành điều tra làm rõ.

Tại Kết luận giám định số 230 ngày 22/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Các mảnh thực vật khô màu nâu trong túi nilon mầu trắng được niêm phong trong phong bì ghi thu của Vũ Minh T gửi đến giám định khối lượng là 0,629g là ma túy, loại Cần sa. Cơ quan giám định đã trả lại 0,469 gam ma túy loại cần sa, 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật.

Tại bản kết luận giám định số 233/KL-KTHS ngày 24/4/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: Các cành, lá cây thực vật khô trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu L1, do Dương Ngọc L tự nguyện giao nộp, gửi đến giám định tổng khối lượng là 2,961g là ma túy, loại Cần sa. Cơ quan giám định đã trả lại 2,660 gam ma túy loại cần sa, 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu L1.

Tại Kết luận giám định số 117/KL-KTHS ngày 23/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: 01 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng là tiền thật.

Tại phiên tòa, các bị cáo Dương Ngọc L, Trần Duy B và Lê Thị M đều thừa nhận bản thân biết Cần sa là chất ma túy và là chất Nhà nước cấm lưu hành. Vì động cơ và mục đích tư lợi cá nhân, các bị cáo đã thực hiện hành vi mua, bán trái phép chất ma túy để kiếm lời. Bị cáo Trần Duy B thừa nhận gói ma túy cơ quan điều tra thu giữ của Vũ Minh T là của bị cáo đưa cho bị cáo M để bán; bị cáo M thừa nhận đã nhận gói ma túy từ B để bán cho L theo đề nghị của L; bị cáo L thừa nhận đã mua gói ma túy của M để bán lại cho đối tượng T. Các bị cáo nhất trí với kết luận giám định; đồng thời thể hiện thái độ ăn năn hối cải; công nhận Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương đã truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng.

Tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Dương Ngọc L, Trần Duy B và Lê Thị M phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính:

  • - Áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 đối với các bị cáo Dương Ngọc L, Trần Duy B và Lê Thị M; áp dụng thêm Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Duy B và Lê Thị M.
  • - Xử phạt bị cáo Dương Ngọc L từ 24 đến 27 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 15/5/2023.
  • - Xử phạt bị cáo Trần Duy B từ 27 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 15/5/2023.
  • - Xử phạt bị cáo Lê Thị M từ 27 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 15/5/2023.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

Về biện pháp tư pháp: Áp điểm a, b, c Khoản 1 và Khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Khoản 1, điểm a, b, c Khoản 2 và Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu cho tiêu hủy 0,469 gam ma túy loại cần sa, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định và 01 vỏ phong bì số 230/KL-KTHS của cơ quan giám định hoàn trả.
  • - Tịch thu cho tiêu hủy 2,660 gam ma túy loại cần sa, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu L1 và 01 vỏ phong bì số 233/KL-KTHS của cơ quan giám định hoàn trả.
  • - Trả lại cho bị cáo Lê Thị M số tiền 200.000 đồng.
  • - Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong tiền số 117/KL-KTHS.
  • - Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu vàng, số Imei 355757073779429.
  • - Tịch thu cho tiêu hủy 01 thẻ SIM số 0333.678.593 và 01 vỏ phong bì niêm phong điện thoại.
  • - Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước giá trị 01 diện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, số Imei FK1ZT8J8J5N70F
  • - Tịch thu cho tiêu hủy 01 thẻ SIM số 0355.568.718 và 01 vỏ phong bì niêm phong điện thoại.
  • - Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Dương Công H 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6S màu trắng, số Imei F4HQNRYNGRY8 bên trong có gắn SIM số 0947.392.322 và 01 đầu ghi camera nhãn hiệu Dahua, số seri 5M0598APAZ25A12.
  • - Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước giá trị 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 7 màu trắng, số Imei C6KV25RAHG6X.
  • - Tịch thu cho tiêu hủy 01 thẻ SIM số 0904.376.724 và 01 vỏ phong bì niêm phong điện thoại.
  • - Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước giá trị 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, số Imei R4J4YD00065.
  • - Tịch thu cho tiêu hủy 01 thẻ SIM số 0329.965.913 và 01 vỏ phong bì niêm phong điện thoại.
  • - Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước giá trị 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nâu, biển số 34B3-408.69, số khung C100MN0115006, số máy C100MNE0115006.
  • - Trả lại cho bị cáo Lê Thị M 01 giá bằng sắt và một sọt nhựa màu xanh.
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng đối với bị cáo Dương Ngọc L (chưa thu).
  • - Tiếp tục quản lý tại hồ sơ 06 đĩa CD ghi âm buổi hỏi cung đối với các bị cáo và 01 USB lưu giữ hình ảnh camera.

Các bị cáo nhất trí với luận tội, không tham gia tranh luận, đều thể hiện lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về chứng cứ xác định các bị cáo có tội:

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Ngọc L thừa nhận do biết Lê Thị M có bán ma túy loại cần sa nên khi Vũ Minh Trọng liên h hỏi mua, Dương Ngọc L đã liên hệ với Lê Thị M để mua cần sa bán lại cho T sau khi đã trích lại một phần nhỏ cần sa đã mua từ M để sử dụng cho bản thân. Các bị cáo Lê Thị M và Trần Duy B thừa nhận Trần Duy B mua cần sa về, sau đó trao đổi với Lê Thị M nếu có ai hỏi mua thì B sẽ đưa cần sa để M bán lấy tiền chi tiêu cho gia đình. Các bị cáo đều thừa nhận vào sáng ngày 10/4/2023 khi L hỏi mua cần sa, M đã liên hệ rồi đến nhận cần sa từ B sau đó liên hệ để giao cần sa cho L thông qua đối tượng tên H2 do L nhờ đến lấy. Sau khi L bán lại cần sa cho Vũ Minh T để T sử dụng nhưng khi T chưa sử dụng thì bị công an huyện T, tỉnh Hải Dương phát hiện.

Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản niêm phong đồ vật bị tạm giữ, biên bản mở niêm phong, biên bản và bản ảnh nhận dạng, dữ liệu thu giữ từ điện thoại cũng như vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định. Các tài liệu, chứng cứ này phù hợp với các chứng cứ khác như: Bản tự khai của các bị cáo, biên bản ghi lời khai các bị cáo, biên bản hỏi cung các bị cáo, biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi mua, bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích kiếm lời với lỗi cố ý; đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Với hành vi mua bán trái phép chất ma túy loại Cần sa có khối lượng 0,629 gam nên hành vi của các bị cáo Dương Ngọc L, Trần Duy B và Lê Thị M đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, có thể khẳng định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương đã truy tố các bị cáo về tội danh, điều khoản nêu trên là đủ căn cứ, đúng người thực hiện hành vi phạm tội và đúng pháp luật.

[2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tính chất đồng phạm: Trong vụ án này các bị cáo Trần Duy B và Lê Thị M đồng phạm với nhau nhưng các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo B là người trực tiếp đi mua ma túy bằng nguồn tiền của mình, khi có ma túy đã lôi kéo bị cáo M giúp sức cho mình trong việc bán ma túy cho người khác nên bị cáo B là người giữ vai trò chính trong vụ án; tiếp đó bị cáo M là người thực hành tích cực nên giữ vai trò thứ hai. Riêng bị cáo L là người mua ma túy để bán lại cho đối tượng T nhằm kiếm lời nên bị cáo L phải chịu trách nhiệm độc lập về hành vi phạm tội của mình.

[5] Về căn cứ quyết định hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Dương Ngọc L là người không có tiền án, tiền sự nhưng phạm tội về ma túy; bị cáo Trần Duy B là người giữ vai trò chính trong đồng phạm; bị cáo Lê Thị M là người thực hiện hành vi phạm tội khi tiền sự chưa được xóa. Vì vậy cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi của từng bị cáo đã thực hiện.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng khối lượng ma túy nhỏ, giá trị hưởng lợi không lớn; mặt khác các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về biện pháp tư pháp:

Đối với 0,469 gam ma túy loại cần sa, 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định thu giữ của Vũ Minh T được niêm phong trong phong bì số 230/KL-KTHS là vật chứng trong vụ án. Xét thấy cần sa là chất Nhà nước cấm lưu hành, túi nilon, vỏ phong bì niêm phong gửi giám định và vỏ phong bì cơ quan giám định niêm phong hoàn trả không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu vàng gắn SIM số 0333.678.593 thu giữ của Vũ Minh T. Xét thấy đây là công cụ T dùng để liên hệ với bị cáo Lê Thị M mua cần sa để sử dụng, khối lượng cần sa Vũ Minh T cất giấu không đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 09/5/2023 Công an huyện T đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Vũ Minh T nhưng chưa áp dụng biện pháp tịch thu đối với công cụ thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Vì vậy cần tuyên tịch thu cho phát mại nộp ngân sách Nhà nước giá trị chiếc điện thoại này; đối với thẻ SIM và vỏ phong bì niêm phong điện thoại không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 2,660 gam ma túy loại cần sa, 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu L1 thu giữ của bị cáo Dương Ngọc L được niêm phong trong phong bì số 233/KL-KTHS. Xét thấy, Dương Ngọc L tự nguyện giao nộp khối lượng cần sa này nhưng không đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 15/5/2023 Công an thành phố H đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Dương Ngọc L nhưng chưa áp dụng biện pháp tịch thu tiêu hủy đối với khối lượng cần sa đã thu giữ. Xét thấy cần sa là chất Nhà nước cấm lưu hành, túi nilon, vỏ phong bì niêm phong gửi giám định và vỏ phong bì cơ quan giám định niêm phong hoàn trả không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với số tiền 200.000 đồng cơ quan Điều tra công an huyện T đã thu giữ của bị cáo Lê Thị M, quá trình điều tra bị cáo M và bị cáo Dương Ngọc L đều xác định L nhận ma túy từ M mang đi bán và chưa thanh toán tiền. Số tiền 200.000 đồng bị cáo M giao nộp không phải là tiền do phạm tội mà có nên cần tuyên trả lại cho bị cáo số tiền này. Đối với phong bì niêm phong tiền số 117/KL-KTHS không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với số tiền 200.000 đồng bị cáo Dương Ngọc L đã nhận để bán ma túy cho đối tượng Vũ Minh T được xác định là tiền do phạm tội mà có. Vì vậy, cần tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền này đối với bị cáo Dương Ngọc L.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nâu biển số 34B3-408.69 được xác định là tài sản của bị cáo Lê Thị M, bị cáo M sử dụng làm phương tiện phạm tội nên tuyên tịch thu cho phát mại giá trị chiếc xe này nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 112758 mang tên Lê Thị M thu giữ tại hồ sơ. Do chiếc xe bị tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước nên sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương sẽ chuyển giấy chứng nhận này sang Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương.

Đối với 01 giá bằng sắt và một sọt nhựa màu xanh gắn trên xe mô tô, bị cáo M đề nghị được lấy lại. Xét thấy các tài sản này không gắn liền với chiếc xe mô tô nên không phải là phương tiện phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo M để sử dụng.

Đối với 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 7 màu trắng bên trong có gắn SIM số 0904.376.724 thu giữ của bị cáo Lê Thị M. Xét thấy đây là công cụ bị cáo M sử dụng vào việc phạm tội nên cần tuyên tịch thu cho phát mại nộp ngân sách Nhà nước giá trị chiếc điện thoại này; đối với thẻ SIM và vỏ phong bì niêm phong điện thoại không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, bên trong có gắn SIM số 0329.965.913 thu giữ của bị cáo Trần Duy B. Xét thấy đây là công cụ bị cáo B sử dụng vào việc phạm tội nên cần tuyên tịch thu cho phát mại nộp ngân sách Nhà nước giá trị chiếc điện thoại này; đối với thẻ SIM và vỏ phong bì không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, bên trong có gắn SIM số 0355.568.718 thu giữ của bị cáo Dương Ngọc L. Xét thấy đây là công cụ bị cáo L sử dụng vào việc phạm tội nên cần tuyên tịch thu cho phát mại nộp ngân sách Nhà nước giá trị chiếc điện thoại này; đối với thẻ SIM và vỏ phong bì niêm phong điện thoại không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6S màu trắng, bên trong có gắn SIM số 0947.392.322 thu giữ của bị cáo Dương Ngọc L và 01 đầu ghi camera nhãn hiệu Dahua thu giữ tại gia đình bị cáo Dương Ngọc L. Xét thấy chiếc điện thoại và thẻ SIM là tài sản của ông Dương Công H (là bố bị cáo) cho bị cáo mượn, khi bị cáo sử dụng vào việc phạm tội ông Dương Công H không biết, đầu ghi camera không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại các tài sản này cho ông Dương Công H để sử dụng.

Đối với 06 đĩa CD ghi âm buổi hỏi cung đối với các bị cáo; 01 USB ghi dữ liệu hình ảnh camera được xác định là tài liệu có trong hồ sơ nên cho tiếp tục quản lý tại hồ sơ.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[10] Về các vấn đề khác:

Hành vi bán cần sa cho bị cáo Trần Duy B của người đàn ông không xác định được nên không có căn cứ xử lý.

Ông Dương Công H cho bị cáo Dương Ngọc L mượn điện thoại nhưng không biết việc L sử dụng điện thoại thực hiện hành vi phạm tội nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm của ông H.

Đối với hành vi tàng trữ chất ma túy loại cần sa của Vũ Minh TDương Ngọc L không đủ yếu tố cầu thành tội phạm; Công an huyện TCông an thành phố H đã quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với TL bằng hình thức phạt tiền là phù hợp.

Đối với hành vi của anh Phạm Quang N đi cùng Vũ Minh T nhưng không biết T tàng trữ ma túy nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm của anh N.

Đối tượng tên H2 được bị cáo L nhờ gặp bị cáo M để nhận ma túy nhưng đối tượng H2 không biết đó là ma túy, mặt khác hiện nay không xác định được đối tượng H2 nên không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Dương Ngọc L.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Duy B và Lê Thị M.

Căn cứ điểm a, b, c Khoản 1 và Khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Khoản 1, điểm a, b, c Khoản 2 và Khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo Dương Ngọc L, Trần Duy B và Lê Thị M.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Dương Ngọc L, Trần Duy B và Lê Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Dương Ngọc L 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 15/5/2023.

2.2. Xử phạt bị cáo Trần Duy B 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 15/5/2023.

2.2. Xử phạt bị cáo Lê Thị M 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 15/5/2023.

3. Về biện pháp tư pháp:

  • - Tịch thu cho tiêu hủy 0,469 gam ma túy loại cần sa, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định và 01 vỏ phong bì số 230/KL-KTHS của cơ quan giám định hoàn trả.
  • - Tịch thu cho tiêu hủy 2,660 gam ma túy loại cần sa, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu L1 và 01 vỏ phong bì số 233/KL-KTHS của cơ quan giám định hoàn trả.
  • - Trả lại cho bị cáo Lê Thị M số tiền 200.000 đồng.
  • - Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong tiền số 117/KL-KTHS.
  • - Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu vàng, số Imei 355757073779429.
  • - Tịch thu cho tiêu hủy 01 thẻ SIM số 0333.678.593 và 01 vỏ phong bì niêm phong điện thoại.
  • - Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước giá trị 01 diện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, số Imei FK1ZT8J8J5N70F
  • - Tịch thu cho tiêu hủy 01 thẻ SIM số 0355.568.718 và 01 vỏ phong bì niêm phong điện thoại.
  • - Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Dương Công H 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6S màu trắng, số Imei F4HQNRYNGRY8 bên trong có gắn SIM số 0947.392.322 và 01 đầu ghi camera nhãn hiệu Dahua, số seri 5M0598APAZ25A12.
  • - Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước giá trị 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 7 màu trắng, số Imei C6KV25RAHG6X.
  • - Tịch thu cho tiêu hủy 01 thẻ SIM số 0904.376.724 và 01 vỏ phong bì niêm phong điện thoại.
  • - Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước giá trị 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, số Imei R4J4YD00065.
  • - Tịch thu cho tiêu hủy 01 thẻ SIM số 0329.965.913 và 01 vỏ phong bì niêm phong điện thoại.
  • - Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước giá trị 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nâu, biển số 34B3-408.69, số khung C100MN0115006, số máy C100MNE0115006.
  • - Trả lại cho bị cáo Lê Thị M 01 giá bằng sắt và một sọt nhựa màu xanh.
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng đối với bị cáo Dương Ngọc L (chưa thu).
  • (Vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương).
  • - Tiếp tục quản lý tại hồ sơ 06 đĩa CD ghi âm buổi hỏi cung đối với các bị cáo và 01 USB lưu giữ hình ảnh camera.

4. Về án phí: Buộc các bị cáo Dương Ngọc L, Trần Duy B và Lê Thị M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Dương Ngọc L, Trần Duy B và Lê Thị M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo về phần có liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Những người có QLNV liên quan;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân TP Hải Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan CSĐT công an TP Hải Dương;
  • - Cơ quan THAHS công an T. Hải Dương;
  • - Cơ quan THAHS công an TP. Hải Dương;
  • - Bộ phận HSNV công an thành phố Hải Dương;
  • - Trại tạm giam – Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Hải Dương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
  • - Lưu VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Xuân Hiền

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 180/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo đều thừa nhận vào sáng ngày 10/4/2023 khi L hỏi mua cần sa, M đã liên hệ rồi đến nhận cần sa từ B sau đó liên hệ để giao cần sa cho L thông qua đối tượng tên H do L nhờ đến lấy. Sau khi L bán lại cần sa cho Vũ Minh Tr để Trọng sử dụng nhưng khi Tr chưa sử dụng thì bị công an huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương phát hiện.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger