Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 180/2025/DS-PT

Ngày 24-3-2025

V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Cường.

Các Thẩm phán: Ông Phan Trí Dũng;

Ông Nguyễn Trung Dũng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Thoại - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 489/2024/TLPT-DS ngày 29/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 298/2024/DS-ST ngày 13-9-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 151/2025/QĐ-PT ngày 27/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 31/2025/QĐ-PT ngày 10/3/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Lý H, sinh năm 1949; địa chỉ: tổ A, ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; có mặt.
  2. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 2000; địa chỉ liên hệ: số 438c, đường B, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Mai Thị Kim S là Luật sư của H1 Luật Mai Thị Kim S thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ liên hệ: số 438c, đường B, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; có mặt.

  3. Bị đơn: Công ty Cổ phần H5; địa chỉ: A khu dân cư H, đường T, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
  4. Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Bùi Quốc H2, sinh năm 1993; địa chỉ liên hệ: số A T, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

2

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Đặng Chí N là Luật sư của Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1989; địa chỉ: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
    2. Ông Hồ Văn P, sinh năm 1981;
    3. Bà Tô Thị N1, sinh năm 1983;
    4. Bà Hồ Thị Ái L, sinh năm 2002;
    5. Bà Hồ Thị Hồng T, sinh năm 2007;

    Cùng đại chỉ: khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

    1. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1961; địa chỉ: tổ A, ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; có mặt.
  2. Người kháng cáo: Ông Trần Lý H và bà Nguyễn Thị T1 là nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 05/7/2024 của nguyên đơn ông Trần Lý H (gọi tắt là ông H) và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của ông H trình bày:

Do có nhu cầu đầu tư đất tại thành phố D, tỉnh Bình Dương nên ông H tìm hiểu thông tin trên mạng xã hội Facebook, được biết Công ty Cổ phần H5 (gọi tắt là Công ty) đang quảng cáo bán dự án đất nền tại thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vì thấy thông tin phù hợp với khả năng tài chính nên ông H đã chủ động gọi vào số điện thoại của Công ty thì được nhân viên Công ty là bà Nguyễn Thị Kim Y tư vấn cho ông H. Ngày 30/5/2024, vợ chồng ông H, bà T1 đến Công ty để nhân viên của Công ty dẫn đi xem lô đất ở Bình Dương như nhân viên đã giới thiệu. Tuy nhiên, nhân viên của Công ty nói rằng lô đất bị thóp hậu không nên mua và giới thiệu cho vợ chồng ông H, bà T1 01 lô đất khác đẹp hơn. Sau đó, vợ chồng ông H, bà T1 lên xe ô tô của Công ty để chở đến xem đất, lúc này trong xe có 06 người, vợ chồng ông H, bà T1 ngồi giữa nên bị che hết tầm nhìn, vì vậy ông H, bà T1 không biết Công ty chở đi đâu. Xe chạy từ trụ sở Công ty đến vị trí đất hơn 02 tiếng đồng hồ. Khi xuống xe, vợ chồng ông H, bà T1 thấy Công ty có dựng rạp tổ chức sự kiện rút thăm trúng thưởng tại đất. Sau khi nghe nhân viên Công ty T2 và chỉ đất, vợ chồng ông H, bà T1 đồng ý mua 02 thửa đất mà theo nhân viên của Công ty nói là thửa đất số 399 và 400, tờ bản đồ số 21, nhưng chỉ cho vợ chồng ông H, bà T1 xem bản phô tô giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 400. Ngoài ra, không còn cho xem giấy tờ nào khác. Sau đó, nhân viên Công ty yêu cầu vợ chồng ông H, bà T1 phải đặt cọc mỗi thửa đất là 100.000.000 đồng. Do lúc này vợ chồng ông H, bà T1 chỉ mang theo 2.000.000 đồng nên chỉ đặt cọc cho Công ty số tiền 2.000.000 đồng/02 thửa đất, số tiền còn lại sau khi về nhà ông H thanh toán tiếp thì nhân viên Công ty đồng ý cho vợ chồng ông H, bà T1 đặt cọc trước 2.000.000 đồng và còn cho vợ chồng ông H, bà T1 tham gia rút thăm trúng thưởng; kết quả vợ chồng ông H, bà T1 đã trúng được 03 chỉ vàng 9999. Trên đường từ đất về, Công ty dừng xe lại ăn cơm trưa, lúc này nhân viên Công ty đưa cho vợ

3

chồng ông H, bà T1 ký vào 02 tờ giấy cọc, do tin tưởng nên trước khi ký ông H không có đọc lại nội dung nên không biết trong các giấy cọc ghi thông tin gì. Sau đó, Công ty chở vợ chồng ông H, bà T1 về nhà để thanh toán tiếp số tiền cọc còn lại cho Công ty. Do tiền ông H gửi trong Ngân hàng nên ông H cùng với nhân viên Công ty đến Ngân hàng gần nhà để rút tiền và thanh toán tiếp cho Công ty số tiền 198.000.000 đồng. Sau khi nhận đủ số tiền cọc 200.000.000 đồng, nhân viên Công ty giao cho vợ chồng ông H, bà T1 03 chỉ vàng 9999 đã trúng thưởng và Giấy biên nhận đặt cọc lô đất của 02 thửa đất trên. Do mọi việc diễn ra nhanh chóng nên vợ chồng ông H không kiểm tra lại các giấy đặt cọc. Ngày hôm sau, con gái của vợ chồng ông H kiểm tra lại các giấy cọc thì thấy đất mà vợ chồng ông H, bà T1 đặt cọc mua là ở tỉnh Bình Phước và con gái ông H tìm hiểu thông tin vị trí đất trên bản đồ địa chính thì không có thể hiện.

Do sợ bị lừa nên sáng ngày 31/5/2024, con gái ông H đến Ủy ban nhân dân phường M để hỏi cán bộ địa chính để xác minh 02 thửa đất này có hay không thì được cán bộ địa chính cho biết là 02 thửa đất này không có trên bản đồ địa chính. Sau khi biết thông tin như vậy, bản thân ông H và gia đình vẫn không phản ánh lại Công ty. Đến ngày 03/6/2024, ông H cùng con gái và Luật sư Mai Thị Kim S đến 02 thửa đất mà vợ chồng ông H đã xem vào ngày 30/5/2024 để xem lại trước khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; do ông H mới đi đến đất có 01 lần và do xe của Công ty đưa đi nên ông H không nhớ vị trí đất mà phải nhờ nhân viên Công ty gửi định vị vị trí đất. Sau khi đến nơi, ông H không xác định được vị trí 02 thửa đất số 399 và 400. Đến đầu giờ chiều ngày 03/6/2024, ông H cùng con gái và Luật sư Mai Thị Kim S đến Văn phòng C để thực hiện việc ký kết hợp đồng công chứng, nhưng tại đây chỉ có 04 nhân viên của Công ty mà không có ông Nguyễn Văn M (là người được hộ gia đình ông P, bà N1 ủy quyền chuyển nhượng đất). Lúc này, ông H và con gái yêu cầu nhân viên Công ty cho xem bản chính các giấy tờ về đất gồm: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 399 và 400, nhưng chỉ được nhận viên Công ty là cô Kim Y cho xem bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 400 và hợp đồng ủy quyền giữa chủ đất là gia đình ông P, bà N1 cho ông M được thay mặt hộ gia đình ông P, bà N1 thực hiện các công việc như nhận đặt cọc, ký hợp đồng đặt cọc và các công việc khác liên quan đến thửa đất số 399, 400. Ông H hỏi bà Kim Y nhân viên Công ty là ông M khi nào mới đến ký hợp đồng công chứng thì bà Kim Y trả lời là yêu cầu ông H thanh toán đủ tiền chuyển nhượng đất rồi mới cho gặp mặt ông M. Trong khi chờ ông M đến ký hợp đồng công chứng thì Luật sư Kim S đến bàn nhân viên của Văn phòng C hỏi tính pháp lý của Hợp đồng ủy quyền giữa ông M với Công ty có hợp lệ hay không thì được nhân viên Văn phòng Công chứng trả lời là không hợp lệ. Sau đó, ông H, con gái ông H và Luật sư Kim S chờ khoảng 2 - 3 tiếng đồng hồ mà vẫn không thấy ông M đến nên mọi người đi về.

Nhận thấy, các thông tin mà nhân viên Công ty đưa ra không đúng sự thật, ông M không có thiện chí ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên ông H đã yêu cầu Công ty Cổ phần H5 trả lại cho ông H số tiền cọc 200.000.000 đồng, nhưng Công ty không đồng ý. Do đó, ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: tuyên 02 Biên nhận đặt cọc ký ngày 30/5/2024 giữa ông Trần Lý H với Công ty Cổ phần H5 đối với thửa đất số 399 và số 400, tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước vô hiệu; buộc Công ty phải trả cho ông H số tiền đặt cọc đã nhận 200.000.000 đồng, ông Hòa đồng Ý hoàn trả cho Công ty C1 chỉ vàng, tạm tính tương đương số tiền 21.000.000 đồng.

4

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty Cổ phần H5 (gọi tắt là Công ty) do ông Bùi Quốc H2 làm đại diện trình bày:

Công ty Cổ phần H5 là Công ty hoạt động chính trong lĩnh vực tư vấn bất động sản, môi giới bất động sản và quản lý bất động sản trên cơ sở phí hoặc hợp đồng; đã đăng ký mã ngành, nghề kinh doanh theo quy định của pháp luật. Trong quá trình kinh doanh, Công ty có khách hàng là ông Nguyễn Văn M đã ký gửi 09 thửa đất theo Hợp đồng môi giới độc quyền mua bán bất động sản số 09/HĐMGMBBĐS ngày 01/4/2024, trong đó có: thửa đất số 399, tờ bản đồ số 21, địa chỉ tại khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 244480, số vào sổ cấp giấy chứng nhận VP 07402 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 07/12/2023; thửa đất số 400, tờ bản đồ số 21, địa chỉ tại khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 244479, số vào sổ cấp giấy chứng nhận VP 07401 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Phước cấp ngày 07/12/2023.

Cả 02 thửa đất trên được cấp cho hộ gia đình ông Hồ Văn P, bà Tô Thị N1, bà Hồ Thị Ái L, bà Hồ Thị Hồng T và đã ủy quyền toàn bộ cho ông Nguyễn Văn M theo Hợp đồng ủy quyền số 003604 ngày 22/12/2023 tại Văn phòng C. Đồng thời, ông M cũng đã ký Hợp đồng ủy quyền ngày 01/4/2024 với Công ty về việc thay mặt và nhân danh ông M nhận tiền đặt cọc và tiền thanh toán đối với 02 thửa đất nêu trên. Căn cứ vào 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Hợp đồng ủy quyền số 0003604 ngày 22/12/2023; Hợp đồng Môi giới độc quyền mua bán bất động sản số 09/HĐMGBBĐS ngày 01/4/2024 và Hợp đồng ủy quyền ngày 01/4/2024 giữa ông M với Công ty Cổ phần H5; Công ty đã tiến hành môi giới 02 thửa đất nêu trên và nhận cọc của nguyên đơn ông Trần Lý H theo Biên nhận đặt cọc số 599/2024/HT và 584/2024/HT cùng ngày 30/5/2024.

Sau quá trình giới thiệu, ông H có nhu cầu xem các thửa đất tại khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước nên Công ty đã hỗ trợ thuê xe 07 chỗ để chở vợ chồng ông H, bà T1 đến vị trí đất xem hiện trạng. Tại vị trí đất, nhân viên Công ty là bà Nguyễn Thị Kim Y đã cung cấp toàn bộ thông tin thửa đất và hồ sơ pháp lý. Đồng thời, để kích cầu khách hàng và theo chính sách ưu đãi của Công ty, Công ty đã tổ chức cho vợ chồng ông H bốc thăm trúng thưởng với quà tặng là 03 chỉ vàng 24K theo chính sách ưu tiên giữ chỗ khi đặt cọc. Sau đó, vợ chồng ông H đã quyết định mua 02 lô đất trên và đặt cọc số tiền 200.000.000 đồng. Hiện Công ty đang giữ số tiền này.

Quá trình giải quyết vụ án, Công ty thống nhất với lời trình bày của ông H về số tiền đặt cọc, giá trị chuyển nhượng 02 thửa đất, thời hạn 02 bên thỏa thuận ký kết hợp đồng chuyển nhượng. Công ty cho rằng lý do ngày 03/6/2024, hai bên không ký kết hợp đồng chuyển nhượng 02 thửa đất trên là vì khi đến Văn phòng Công chứng, ông H cho rằng 02 thửa đất trên không tồn tại, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giả, thửa đất không đúng nên ông H không ký hợp đồng chuyển nhượng. Trước yêu cầu khởi kiện của ông H, Công ty không đồng ý, vì Công ty đã thực hiện việc giới thiệu và tiến hành các thủ tục để ký kết hợp đồng đúng quy định của pháp luật. Trong khoảng thời gian từ 08 giờ đến 11 giờ 30 phút ngày 03/6/2024, ông M có đến Văn phòng Công chứng để thực hiện giao dịch nhưng không gặp ông H, vì ông H đã bỏ về trước nên các bên không tiến hành giao dịch được. Thời điểm đó, ông H2 là người mang 02 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 399 và 400 đến ký hợp đồng,

5

nhưng ông H chỉ làm việc với bà Y là một nhân viên khác của Công ty. Sau đó, ông H hỏi nhân viên Văn phòng C về tính hợp pháp của giấy ủy quyền chứ không hỏi công chứng viên. Sau sự việc đó, Công ty đã cử nhân viên (trong đó có bà Y) đến nhà ông H để hỗ trợ ký kết hợp đồng chuyển nhượng, hỗ trợ phương án để ông H không bị mất cọc nhưng gia đình ông H không hợp tác. Hiện tại, 02 thửa đất số 399 và 400 đã được chủ sở hữu tặng cho ông Nguyễn Văn H3.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M trình bày:

Hộ gia đình ông Hồ Văn P là chủ sở hữu các thửa đất số 399 và 400, tờ bản đồ số 21 tại khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 244480, số vào sổ VP 07402 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 244479, số vào sổ VP 07401 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 07/12/2023. Do có nhu cầu chuyển nhượng các thửa đất trên, gia đình ông P đã ký hợp đồng ủy quyền ngày 22/12/2023 cho ông M được toàn quyền quyết định đối với 02 thửa đất trên. Ngày 01/4/2024, ông M ký hợp đồng ủy quyền cho Công ty Cổ phần H5 để thay mặt ông M nhận cọc. Ngày 30/5/2024, Công ty Cổ phần H5 liên hệ ông M để hẹn ông M ngày 03/6/2024 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông H. Ngày 03/6/2024, ông M có mặt tại Văn phòng C để ký hợp đồng; đồng thời, mang theo 02 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đối chiếu, nhưng ông H bị 01 người nào đó ngăn cản không cho ký và lên xe đi về. Hiện tại, Công ty Cổ phần H5 đang giữ số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng của ông H, ông M không giữ số tiền này. Hiện tại 02 thửa đất số 399 và 400 đã được chuyển nhượng sang tên cho ông Nguyễn Văn H3. Trước yêu cầu khởi kiện của ông H, ông M không có tranh chấp và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Văn P, bà Tô Thị N1, bà Hồ Thị Ái L và bà Hồ Thị Hồng T thống nhất trình bày:

Ông P, bà Nghĩa là chủ sở hữu 02 thửa đất số 399 và 400, tờ bản đồ số 21 tại khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 244480, số vào sổ VP 07402 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 244479, số vào sổ VP 07401 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 07/12/2023 đứng tên Hồ Văn P và Tô Thị N1. Ngày 22/12/2023, gia đình ông P, bà N1 và các con L, T có ký hợp đồng ủy quyền cho ông M được toàn quyền quyết định đối với 02 thửa đất trên. Sau đó, ông M ủy quyền lại cho người thứ 3 thì ông P, bà N1 không biết. Số tiền 200.000.000 đồng của ông H đặt cọc cho Công ty Cổ phần H5, ông P và bà N1 không biết và không có giữ số tiền này. Trước yêu cầu khởi kiện của ông H thì ông P, bà N1 đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật; đồng thời, ông P, bà N1, bà L, bà T đề nghị giải quyết vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 trình bày: bà T1 là vợ của ông H, số tiền 200.000.000 đồng mà ông H đặt cọc cho Công ty Cổ phần H5 để mua đất là của vợ chồng bà T1. Bà T1 thống nhất với lời trình bày của ông H và yêu cầu Công ty trả lại tiền cọc 200.000.000 đồng cho vợ chồng bà.

* Người làm chứng bà Trần Thị Kim Đ trình bày: bà Đ là con gái của ông H, chính bà Đ là người đã tìm hiểu thông tin về 02 thửa đất mà ông H đặt cọc mua. Ngày 03/6/2024, bà Đ có theo ông H đến đất để xem theo định vị mà nhân viên Công ty đã

6

gửi. Sau đó, bà Đ cùng ông H và Luật sư Kim S đến Văn phòng C để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng khi đến Văn phòng Công chứng thì không có ông M, Luật sư Kim S có hỏi nhân viên công chứng về tính pháp lý của hợp đồng ủy quyền giữa ông M với Công ty Cổ phần H5 thì được nhân viên trả lời không hợp lệ. Do chờ lâu mà không thấy ông M đến nên bà Đ cùng với ông H và Luật sư Kim S ra về.

* Người làm chứng bà Nguyễn Thị Kim Y trình bày: bà Y là nhân viên của Công ty Cổ phần H5. Chính bà Y là người trực tiếp tư vấn cho ông H và cùng đi với vợ chồng ông H lên đất để xem thực tế. Sau khi xem đất, vợ chồng ông H thống nhất và đồng ý đặt cọc mua 02 thửa đất số 399 và 400. Sau đó, bà Y còn hỗ trợ đưa vợ chồng ông H về nhà, rồi ông H, con gái ông H và bà Y cùng đến Ngân hàng để rút tiền thanh toán tiền đặt cọc cho Công ty. Mọi giấy tờ liên quan đến 02 thửa đất trên, bà Y đều cho vợ chồng ông H xem đầy đủ. Theo thỏa thuận các bên tiến hành ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào ngày 03/6/2024 tại Văn phòng C; lúc này bà Y cũng có mặt để hỗ trợ cho ông H ký hợp đồng công chứng, phía Công ty ngoài bà Y ra còn có mặt ông H2 cũng là nhân viên Công ty, phía ông H có ông H và 02 người phụ nữ đi cùng, nhưng bà Y không biết họ là ai, ông M cũng có mặt tại Văn phòng C, nhưng do phía ông H không hợp tác nên bỏ về trước. Sau khi tìm hiểu sự việc, bà Y có đến nhà ông H nhiều lần để hỗ trợ, nhưng ông H vẫn không hợp tác.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và xác định: khi ông H ký vào 02 Biên nhận đặt cọc ngày 30/5/2024 là hoàn toàn minh mẫn, không bị ai ép buộc và có mặt vợ của ông H là bà T1, nhưng do ông H tin tưởng nhân viên Công ty nên không đọc lại nội dung của 02 biên nhận đặt cọc; đến ngày 31/5/2024, ông H mới kiểm tra lại nội dung của 02 biên nhận đặt cọc; khi ông H ký vào 02 biên nhận đặt cọc và nhận vàng, có mặt vợ ông H là bà T1 và con gái của ông H là bà Trần Thị Bích D. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn cho rằng: theo 03 hợp đồng ủy quyền mà Công ty cung cấp, chỉ có hợp đồng ủy quyền ngày 22/12/2023 giữa hộ gia đình ông P, bà N1 với ông M là có công chứng, còn 02 hợp đồng khác thì chỉ đóng dấu mộc của Công ty nên việc Công ty căn cứ vào hợp đồng ủy quyền của ông M cho Công ty để nhận cọc là không đúng quy định tại khoản 3 Điều 564 của Bộ luật Dân sự. Ngoài ra, hợp đồng ủy quyền giữa vợ chồng ông P, bà N1 cho Công ty thì chữ ký cũng khác so với chữ ký của ông P, bà N1 ký trong hợp đồng ủy quyền ngày 22/12/2023 trước mặt Công chứng viên và không có điểm chỉ nên không có giá trị pháp lý; Công ty có dấu hiệu lừa dối, không trung thực khi giao dịch với ông H, vì ông H có nguyện vọng mua đất ở Bình Dương và được nhân viên Công ty tư vấn mua đất dự án ở Bình Dương, nhưng lại cho vợ chồng ông H xem đất ở Bình Phước, Công ty còn tổ chức lễ bốc thăm trúng thưởng (trúng vàng) nhằm thao túng tâm lý của khách hàng mà đặt biệt là người lớn tuổi, ít hiểu biết; hơn nữa, tại buổi công chứng ngày 03/6/2024, không có mặt ông M và cho đến nay ông M vẫn không ra, cho thấy ông M không có thiện chí bán đất nên yêu cầu khởi kiện của ông H là có căn cứ. Người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty T3 với giá trị 03 chỉ vàng 9999 là 21.000.000 đồng. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn cho rằng: Công ty không đồng ý trả lại tiền cho ông H, nhưng Công ty có thiện chí tạo điều kiện cho ông H được mua lô đất khác và dùng số tiền 200.000.000 đồng này để đặt cọc để mua, ông H không phải bỏ ra tiền cọc nữa.

7

Tại Bản án số 298/2024/DS-ST ngày 13-9-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đã căn cứ các Điều 5, 26, 35, 39, 147, 180, 184, 229, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 328, 401, 562 của Bộ luật Dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Lý H đối với Công ty Cổ phần H5 về việc “tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

Ngày 26/9/2024, nguyên đơn ông Trần Lý H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, vì cho rằng chưa thỏa đáng, chưa có tính thuyết phục, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của ông H, bà T1.

Tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn ông Trần Lý H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của mình, không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm. Hai bên đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông H, bà T1, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông H. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông H, bà T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy: Bản án số 298/2024/DS-ST ngày 13-9-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H là có căn cứ. Nguyên đơn ông H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T1 kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông H, bà T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về kiến nghị khắc phục thiếu sót: không.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến trình bày của đương sự, Luật sư và quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về hướng giải quyết vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: theo đơn khởi kiện, ông H chỉ yêu cầu Công ty Cổ phần H5 (gọi tắt là Công ty) phải trả lại số tiền cọc đã nhận, không tranh chấp bất động sản là thửa đất số 399 và 400, tờ bản đồ 21 tọa lạc tại khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước nên đây là vụ án dân sự về việc “tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân

8

dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét đơn kháng cáo của ông H, bà T1 được thực hiện trong thời hạn luật định và người kháng cáo là người cao tuổi, thuộc diện miễn án phí nên hợp lệ.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của ông Trần Lý H và bà Nguyễn Thị T1, nhận thấy: quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn đều thống nhất thừa nhận: ngày 30/5/2024, vợ chồng ông H, bà T1 đến Công ty để nhân viên Công ty dẫn đi xem các lô đất mà Công ty đang giới thiệu chuyển nhượng. Sau khi được nhân viên Công ty tư vấn và chỉ đất, vợ chồng ông H, bà T1 đồng ý mua 02 thửa đất gồm: thửa số 399 diện tích 543m² và thửa số 400 diện tích 545,9m², cùng tờ bản đồ số 21 tọa lạc tại khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước với giá thỏa thuận 659.000.000 đồng/01 thửa. Công ty với ông H có lập 02 Biên nhận đặt cọc (V/v mua bán đất nền) số 584/2024/HT và số 599/2024/HT ngày 30/5/2024 có chữ ký, điểm chỉ của ông H, theo đó: ông H đặt cọc cho Công ty số tiền 100.000.000 đồng/01 thửa, nhưng do thời điểm đi xem đất, ông H và bà T1 chỉ mang theo 2.000.000 đồng nên ông H chỉ đặt cọc cho Công ty 2.000.000 đồng/02 thửa đất và được cho tham gia rút thăm trúng thưởng với kết quả trúng được 03 chỉ vàng 9999; số tiền còn lại 198.000.000 đồng, sau khi về nhà ông H đã cùng với nhân viên Công ty đến Ngân hàng gần nhà ông H rút và thanh toán cho Công ty. Tổng cộng, ông H đã đặt cọc cho Công ty số tiền 200.000.000 đồng. Sau khi nhận đủ số tiền cọc, nhân viên Công ty đã giao cho vợ chồng ông H, bà T1, con gái ông H 03 chỉ vàng 9999 và 02 giấy biên nhận đặt cọc đối với 02 thửa đất trên (bút lục 68-69). Số tiền còn lại 559.000.000 đồng/01 thửa; hai bên thỏa thuận thanh toán đợt 1: sau 03 ngày kể từ ngày đặt cọc là ngày 03/6/2024 bên B thanh toán số tiền là 549.000.000 đồng; hai bên sẽ tiến hành ký công chứng chuyển nhượng sang tên tại Văn phòng Công chứng; bên A bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên B và bên B tiến hành thanh toán số tiền còn lại 10.000.000 đồng (bút lục 66-67) nên theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây được xem là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.

[4] Về nguyên nhân xảy ra tranh chấp, nguyên đơn ông H cho rằng: ông H muốn mua đất ở tỉnh Bình Dương, nhưng khi con gái của ông H kiểm tra lại các giấy biên nhận đặt cọc thì phát hiện đất mua là ở tỉnh Bình Phước và qua tìm hiểu thông tin thì vị trí đất không có thể hiện trên bản đồ địa chính nên sáng ngày 31/5/2024, con gái ông H đã đến Ủy ban nhân dân phường M gặp cán bộ địa chính để xác minh thì được cán bộ địa chính cho biết là 02 thửa đất này không có trên bản đồ địa chính. Ngày 03/6/2024, ông H cùng con gái và Luật sư Mai Thị Kim S đến 02 thửa đất để xem lại trước khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng do ông H mới đến đất 01 lần và do xe của Công ty đưa đi nên ông H phải nhờ nhân viên Công ty gửi định vị vị trí đất. Khi đến nơi, ông H không xác định được vị trí 02 thửa đất số 399 và 400. Đến đầu giờ chiều ngày 03/6/2024, ông H cùng con gái và Luật sư đến Văn phòng C để ký kết hợp đồng, nhưng chỉ có 04 nhân viên của Công ty mà không có mặt ông Nguyễn Văn M (người được hộ gia đình ông P, bà N1 ủy quyền ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất). Lúc này, ông H và con gái ông H có yêu cầu nhân viên Công ty cho xem bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng bà Kim Y nhân viên Công ty chỉ cho xem bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 400 và hợp đồng ủy quyền của gia đình ông P, bà N1 cho ông M thực hiện các

9

công việc liên quan đến thửa đất số 399 và 400. Ông H hỏi bà Kim Y là ông M khi nào đến ký hợp đồng thì bà Kim Y yêu cầu ông H thanh toán đủ tiền rồi mới gặp mặt ông M ký hợp đồng. Trong khi chờ ông M, Luật sư có hỏi nhân viên Văn phòng C về tính pháp lý của hợp đồng ủy quyền giữa ông M với Công ty thì được nhân viên Văn phòng C là không hợp lệ. Sau đó, ông H, con gái ông H và Luật sư chờ khoảng 2 đến 3 giờ đồng hồ mà vẫn không thấy ông M đến nên đi về. Đến ngày 05/7/2024, ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên 02 Biên nhận đặt cọc số 599/2024/HT và số 584/2024/HT ngày 30/5/2024 vô hiệu và buộc Công ty Cổ phần H5 trả lại cho ông H số tiền cọc đã nhận 200.000.000 đồng. Đối với 03 chỉ vàng 9999, ông Hòa đồng Ý trả lại cho Công ty theo giá tạm tính tương đương số tiền 21.000.000 đồng. Tuy nhiên, Công ty không đồng ý vì cho rằng: lý do ngày 03/6/2024, hai bên không ký được hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là do ông H cho rằng 02 thửa đất trên không tồn tại, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giả nên ông H không ký hợp đồng chuyển nhượng. Trong khoảng thời gian từ 08 giờ đến 11 giờ 30 phút ngày 03/6/2024, ông M có đến Văn phòng Công chứng để thực hiện giao dịch, nhưng vì ông H đã bỏ về trước nên không gặp. Ngày 03/6/2024, ông H2 (nhân viên Công ty) là người trực tiếp mang 02 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số thửa 399 và 400 đến Văn phòng Công chứng ký hợp đồng, nhưng do ông H chỉ làm việc với bà Kim Y là một nhân viên khác của Công ty. Sau sự việc hôm đó, Công ty có cử nhân viên (trong đó có bà Y) đến nhà ông H để hỗ trợ ký kết hợp đồng chuyển nhượng, hỗ trợ phương án để ông H không bị mất cọc nhưng gia đình ông H không hợp tác. Do Công ty đã thực hiện việc giới thiệu và tiến hành các thủ tục để ký kết hợp đồng theo quy định nên Công ty không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H. Hiện nay, 02 thửa đất số 399 và 400 đã được chủ sử dụng đất tặng cho ông Nguyễn Văn H3 theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 003574, quyển số 01/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/7/2024 của Văn phòng C (bút lục 70-74).

[5] Nhận thấy, ông Hồ Văn P và bà Tô Thị Nghĩa L1 chủ sử dụng 02 thửa đất số 399 và 400, tờ bản đồ 21, tọa lạc tại khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 244480, số vào sổ VP 07402 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 244479, số vào sổ VP 07401 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 07/12/2023 (bút lục 50-53). Ngày 22/12/2023, ông P, bà N1 và 02 con là Hồ Thị Ái L và Hồ Thị Hồng T đến Văn phòng C ký Hợp đồng ủy quyền số công chứng 003604, quyển số 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD để ủy quyền cho ông Nguyễn Văn M được toàn quyền định đoạt đối với 09 thửa đất thuộc quyền sử dụng của ông P, bà N1, trong đó có thửa đất số 399 và 400, theo đó: “Bên A đồng ý ủy quyền cho Bên B được toàn quyền thay mặt và nhân danh Bên A....ký hợp đồng đặt cọc; sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc (kể cả ký kết và hủy bỏ phụ lục hợp đồng đặt cọc (nếu có)); quyết định số tiền đặt cọc và thời gian thỏa thuận, được nhận số tiền đặt cọc...Bên B được phép ủy quyền lại cho người khác, nhưng nội dung, thời hạn ủy quyền không được vượt ngoài phạm vi nội dung và thời hạn mà Bên A đã ủy quyền cho Bên B, ……” (bút lục 59-63). Đến ngày 01/4/2024, ông M và vợ chồng ông P, bà N1 (bên A) ký Hợp đồng ủy quyền cho Công ty Cổ phần H5 (biên B) “được thay mặt và nhân danh bên A nhận tiền đặt cọc và tiền thanh toán đối với các thửa đất nêu trên. Trong phạm vi ủy quyền bên B được toàn quyền quyết định về giá, thời gian nhận cọc, thời gian đặt cọc và thời gian công chứng” (bút lục 54-57); cùng ngày, Công ty Cổ phần H5 (bên A) còn ký với ông M (bên B) Hợp đồng môi giới

10

độc quyền mua bán bất động sản số 09/HĐMGMBBĐS với nội dung “Bên B đồng ý giao cho bên A thực hiện dịch vụ môi giới bán/mua bất động sản đối với các bất động sản thuộc khoản 1.2 điều này” trong đó có thửa đất số 399 và 400 (bút lục 64-65) là phù hợp với ngành nghề kinh doanh môi giới bất động sản của Công ty Cổ phần H5 và không trái quy định tại các Điều 9, 61, 62 của Luật Kinh doanh Bất động sản năm 2023 và các Điều 385, 562 của Bộ luật Dân sự về hợp đồng (không bắt buộc phải công chứng) nên phát sinh hiệu lực.

[6] Xét thời điểm ông Trần Lý H với Công ty Cổ phần H5 thỏa thuận ký kết Biên nhận đặt cọc số 599/2024/HT và số 584/2024/HT ngày 30/5/2024, theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 13/11/2023 thì thửa đất số 399 và 400 “hiện sử dụng ổn định, không có tranh chấp”, không bị kê biên để đảm bảo thi hành án và còn trong thời hạn sử dụng đất nên ông P, bà N1 được thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại các Điều 167, 188 của Luật Đất đai năm 2013; theo xác định của người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn ông H thì thời điểm ông H ký 02 Biên nhận đặt cọc ngày 30/5/2024, ông H hoàn toàn minh mẫn, có đủ năng lực pháp luật dân sự, không bị ai ép buộc và có mặt bà T1 (vợ ông H); mục đích và nội dung giao dịch phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117, 328, 500 của Bộ luật Dân sự, không trái đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực. Việc ông H và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông H cho rằng: Công ty có dấu hiệu lừa dối, không trung thực khi giao dịch với ông H, ông H có nguyện vọng mua đất ở Bình Dương và được nhân viên Công ty tư vấn mua đất dự án ở Bình Dương, nhưng lại cho vợ chồng ông H xem đất ở Bình Phước, tổ chức lễ bốc thăm trúng thưởng nhằm thao túng tâm lý của khách hàng mà đặt biệt là người lớn tuổi, ít hiểu biết nên vô hiệu là không có căn cứ. Ngoài ra, phía nguyên đơn còn cho rằng: ngày 03/6/2024, ông M không đến Văn phòng Công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cung cấp ảnh do bà Trần Thị Kim Đ (con gái ông H) chụp bằng điện thoại tại Văn phòng C; tuy nhiên, bản thân ông H, con gái ông H và Luật sư Mai Thị Kim S chưa từng gặp và biết mặt ông M nên lời trình bày này là hoàn toàn mâu thuẫn. Theo Biên bản xác minh ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An tại Văn phòng C (trước đây là Văn phòng C) thì bà Trần Thị H4 – Chuyên viên Văn phòng xác định: “vào ngày 03/6/2024, ông Nguyễn Văn M có lên Văn phòng C để ký hợp đồng công chứng do tôi (bà H4) soạn hồ sơ” (bút lục 179); xác định này là hoàn toàn phù hợp với lời khai của ông Nguyễn văn M tại Bản tự khai ngày 07/8/2024 (bút lục 97) nên lời trình bày của đại diện bị đơn Công ty là có căn cứ nên có cơ sở xác định ông H là người vi phạm hợp đồng. Xét thấy, tại mục V của Biên nhận đặt cọc số 599/2024/HT và số 584/2024/HT ngày 30/5/2024, hai bên cam kết: “Bên A cam kết đảm bảo tính pháp lý đầy đủ, rõ ràng. Nếu Bên A thay đổi ý định không thực hiện việc chuyển nhượng sản phẩm nêu trên mà không phải lỗi của Bên B, thì Bên A phải hoàn trả lại toàn bộ số tiền thanh toán các đợt mà bên B đã thanh toán và đồng thời bồi thường số tiền tương đương số tiền cọc do Bên B đã thanh toán cho Bên A....Bên B cam kết đã tìm hiểu đầy đủ, rõ ràng về thông tin sản phẩm nêu trên. Nếu Bên B không thanh toán đúng hẹn như nêu tại mục IV cho Bên A, thì được xem như Bên B đồng ý hủy bỏ giao dịch này và Bên B sẽ bị mất số tiền cọc đã thanh toán cho Bên A. Sau khi Bên B vi phạm hợp đồng theo quy định thì Bên A được quyền chỉ định người chuyển nhượng sản phẩm nêu trên”. Do đó, Bản án số 298/2024/DS-ST ngày 13-9-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An tuyên xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H là có căn cứ.

11

[7] Từ những phân tích và lập luận nêu trên, Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông H, bà T1, giữ nguyên Bản án số 298/2024/DS-ST ngày 13-9-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về hướng giải quyết vụ án là có căn cứ.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: ông H, bà T1 được miễn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Lý H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1, giữ nguyên Bản án số 298/2024/DS-ST ngày 13-9-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương như sau:

Căn cứ các Điều 5, 26, 35, 39, 147, 180, 184, 229, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 328, 401, 562 của Bộ luật Dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Lý H đối với Công ty Cổ phần H5 về việc “tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

1.2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Lý H không phải chịu án phí sơ thẩm.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Lý H và bà Nguyễn Thị T1 được miễn theo quy định của pháp luật.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - TAND thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Tổ HCTP, Tòa DS, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đắc Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2025/DS-PT ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 180/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger