Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 180/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10/4/2025

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hiển

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Quang Cảnh, Bà Nguyễn Thị Thanh Trang

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Thành Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 841/2024/HNST ngày 21 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn : Bà Nguyễn Thị Mỹ N – sinh năm 1993 (có Đơn xin xét xử vắng mặt); Địa chỉ thường trú : Tổ B, thôn L, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Bị đơn : Ông Hoàng Trọng H – sinh năm 1991 (vắng mặt); Địa chỉ thường trú : thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Địa chỉ tạm trú : G P, phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Hồ sơ vụ án do Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế chuyển vụ án theo Quyết định chuyển hồ sơ vụ án số 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/9/2024 do bị đơn ông Hoàng Trọng H – sinh năm 1991 có tạm trú và thực tế cư ngụ tại địa chỉ: G P, phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.Tại đơn khởi kiện ngày 28/02/2024, bản tự khai và tại các buổi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N trình bày : bà và ông Hoàng Trọng H tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Về quan hệ hôn nhân : bà yêu cầu được ly hôn với ông Hoàng Trọng H, mâu thuẫn từ không phù hợp tính tình, nuôi dạy con chung, chi tiêu kinh tế và phong tục khác nhau. Ông bà đã ly thân từ tháng 05/2024 đến nay, ông H bỏ vào N sinh sống tạm trú tại địa chỉ G P, phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Về quan hệ con chung : bà và ông Hoàng Trọng H có 01 (một) người con chung tên Hoàng Ngọc Bảo Q – sinh ngày 20/11/2019, bà yêu cầu trực tiếp được nuôi dưỡng con chung mặc dù ngày 09/5/2024, ông H bỏ vào N đã dẫn theo con chung và không cho bà được gặp con. Bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung : bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã tống đạt nhiều lần nhưng bị đơn ông Hoàng Trọng H vẫn vắng mặt và không gửi văn bản ghi ý kiến trình bày của ông.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Mỹ N có đơn xin xét xử vắng mặt và cam kết vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày. Bị đơn ông Hoàng Trọng H vẫn không đến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu ý kiến chính tóm tắt như sau: Về tố tụng : Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 69, khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc Tòa thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ tranh chấp và về thu thập chứng cứ, xác định đúng tư cách đương sự. Việc tham gia hỏi tại phiên tòa của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 50, ngày 15/10/2019 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp cho các đương sự thì quan hệ giữa bà Nguyễn Thị Mỹ N và ông Hoàng Trọng H là quan hệ hôn nhân được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào Công văn số 107/CAPTH ngày 23/9/2024, Công an phường P H1 xác nhận ông Hoàng Trọng H đang thực tế tạm trú tại địa chỉ cụ thể thuộc quận T, thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự .

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N có đơn xin xét xử vắng mặt và cam kết không thay đổi ý kiến. Trong quá trình giải quyết vụ án hôn nhân, mặc dù Tòa án có tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng ông Hoàng Trọng H vẫn vắng mặt. Căn cứ theo quy định Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình : “……… 1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được...”.

Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N thì Hội đồng xét xử nhận thấy giữa bà Nguyễn Thị Mỹ N và ông Hoàng Trọng H có mâu thuẫn trong hôn nhân. Bên cạnh đó, mặc dù Tòa án đã tống đạt nhiều lần nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông Hoàng Trọng H vẫn không đến và cũng không gửi đến văn bản nêu ý kiến cá nhân của ông. Từ đó nhận thấy ông Hoàng Trọng H không còn tha thiết, hàn gắng mối quan hệ vợ chồng với bà Nguyễn Thị Mỹ N. Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Mỹ N

Về con chung: nguyên đơn trình bày bà và ông Hoàng Trọng H có 01 (một) người con chung tên Hoàng Ngọc Bảo Q – sinh ngày 20/11/2019. Bà cho biết ngày 09/5/2024, ông H bỏ vào N đã dẫn theo con chung và không cho bà được gặp con. Bà tha thiết mong được gặp và trực tiếp được nuôi dưỡng con chung nhưng ông H cùng gia đình cản trở không cho bà được gặp con chung. Trẻ Hoàng Ngọc Bảo Q (nữ) hiện nay còn nhỏ, chưa đủ tuổi để Tòa án triệu tập ghi nhận nguyện vọng của con chung nhưng Hội đồng xét xử nhận thấy con chung có giới tính nữ, phát triển tâm sinh lý tuổi dậy thì nên cần giao con chung cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng sẽ thuận lợi cho trẻ. Do nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, bị đơn ông Hoàng Trọng H không gửi văn bản nêu ý kiến cá nhân của ông nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Về tài sản chung, nợ chung: nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N.

[4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mỹ N phải nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và Lệ phí năm 2016 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ông Hoàng Trọng H không phải nộp án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Luật Phí và Lệ phí năm 2016; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N, cụ thể như sau :

- Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Mỹ N được ly hôn với ông Hoàng Trọng H. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 50, ngày 15/10/2019 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp cho các đương sự không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung: Giao con chung tên Hoàng Ngọc Bảo Q – sinh ngày 20/11/2019 cho bà Nguyễn Thị Mỹ N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Hoàng Trọng H không cấp dưỡng nuôi con chung.

2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do bà Nguyễn Thị Mỹ N phải nộp, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000915 ngày 22/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Bà Nguyễn Thị Mỹ N đã nộp đủ án phí. Ông Hoàng Trọng H không phải nộp án phí. Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về quyền kháng cáo: đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THA DS Q. Tân Phú;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Hiển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2025/HNGĐ-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 180/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger