Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 180/2025/HSST

Ngày: 01/4/2025

NHÂN DANH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Loan

Bà Hoàng Thị Hạnh

Thư ký phiên toà : Ông Nguyễn Tuấn Thành - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá tham gia phiên tòa : Bà Tạ Thị Hằng - Kiểm sát viên

Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 176/2025/TL-HSST ngày 27 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2025/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Quản Hữu S, sinh ngày 19/01/1996 tại tỉnh Thanh Hóa.

Nơi thường trú: Thôn Q, xã T, huyện T, Thanh Hóa.

Nơi ở hiện tại: Phòng trọ số 4, số nhà A, đường L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc : Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Số thẻ CCCD : 08096023871 ; con ông Quản Hữu L, sinh năm 1970 và bà Đặng Thị T, sinh năm 1971; vợ : Không; có 01 con sinh năm 2017.

Tiền án: Ngày 15/9/2022 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 163/2022/HSST). Chấp hành xong hình phạt ngày 16/11/2023. Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 24/9/2019 bị Công an phường Đ, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản (Quyết định số 11152/QĐ-XPHC).
  • - Ngày 30/12/2021 bị Công an xã T, huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản (Quyết định số 0076366/QĐ-XPHC)
  • - Năm 2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/01/2025 đến ngày 26/01/2025, chuyển tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Đức H, sinh ngày 26/9/1987 tại tỉnh Thanh Hóa.

Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Số nhà C, đường T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số thẻ CCCD: [...] ; con ông Lê Đức N, sinh năm 1961 và bà Lê Thị H1, sinh năm 1963; vợ: Không; có 01 con sinh năm 2013; tiền án; tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 21/6/2014 bị Công an phường Đ, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau” (Quyết định số 83/QĐ-XLVPHC).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/01/2025 đến ngày 26/01/2025, chuyển tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Chị Ngô Thị T1, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn G, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Rạng sáng ngày 20/01/2025, tại phòng trọ số D số nhà A L, phường Đ, thành phố T, Quản Hữu S đã có hành vi chuẩn bị 02 viên ma túy hồng phiến, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu trắng, gắn ống cuộn bằng tờ tiền do Ngân hàng N1 phát hành mệnh giá 1.000 đồng vào thân chai, 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa ga. Sau đó S lấy 02 viên ma túy hồng phiến lần lượt đặt lên mảnh giấy bạc rồi dùng bật lửa đốt để sử dụng. Khi đã sử dụng gần hết hai viên ma túy, S mời Ngô Thị T1, sinh năm 1979, trú tại Thôn G, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa là bạn đang ở cùng phòng với S sử dụng thì T1 đồng ý nên S đốt ma túy cho T1 sử dụng hết số ma túy còn lại. Đến 07 giờ 30 phút cùng ngày, Tổ công tác Công an thành phố T phối hợp với Công an phường Đ, thành phố T tiến hành kiểm tra hành chính phòng trọ số 04 phát hiện S và T1 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tại chỗ, S, T1 khai nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trước đó. Tổ công tác tiến hành lập biên bản và đưa S, T1 về trụ sở Công an phường Đ làm việc. Nhận thấy hành vi không thể trốn tránh Quản Hữu S đầu thú, khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Quản Hữu S tại phòng trọ số D nhà A L, phường Đ, thành phố T, phát hiện thu giữ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu trắng, phần thân chai có gắn ống cuộn bằng tờ tiền do Ngân hàng N1 phát hành mệnh giá 1.000 đồng; 01 mảnh giấy bạc bị cháy xém; 01 bật lửa ga.

Về nguồn gốc ma túy, S khai nhận: Khoảng 01 giờ sáng ngày 20/01/2025, S gặp và xin được 02 viên ma túy hồng phiến của Lê Đức H (sinh năm 1987, trú tại C T, phường Đ, thành phố T), mang về phòng trọ, chuẩn bị dụng cụ và lấy 02 viên ma túy hồng phiến ra để sử dụng. Khi sử dụng gần hết 02 viên, H mời T1 là bạn ở cùng phòng sử dụng thì T1 đồng ý nên S đốt ma túy cho T1 sử dụng hết số ma túy còn lại. Ngoài ra, S còn khai nhận vào ngày 03/01/2025, S liên hệ qua mesenger với Lê Đức H hỏi mua 04 viên hồng phiến với giá 500.000 đồng, thanh toán bằng hình thức chuyển khoản qua ứng dụng ví MoMo vào tài khoản ngân hàng T2 số 8929899999 của H. Nhận được tiền, H gói 04 viên ma túy hồng phiến vào mảnh giấy bạc, ném ra trước cửa nhà rồi chỉ vị trí cho S lấy. Có được ma túy, S đem về phòng trọ một mình sử dụng hết .

Kết quả test ma túy của Quản Hữu S và Ngô Thị T1: Dương tính với chất ma túy Methamphetamine .

Ngày 20/01/2025 Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Đức H tại số C T, phường Đ, thành phố T, phát hiện, thu giữ bên trong gối ôm để trên giường trong phòng ngủ tầng 2 của H 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ, kích thước khoảng (03x06)cm, bên trong chứa 19 viên nén hình tròn màu đỏ. H khai nhận đây là ma túy hồng phiến của H, cất giấu nhằm mục đích để bán.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Đức H đầu thú khai báo hành vi đã bán trái phép cho Quản Hữu S 04 viên ma túy hồng phiến với giá 500.000 đồng vào ngày 03/01/2025 (như S đã khai báo) và thừa nhận đã cho S 02 viên ma túy hồng phiến vào rạng sáng ngày 20/01/2025 để S sử dụng, còn việc S mang ma túy đi đâu, sử dụng với ai H không biết, không liên quan.

Về nguồn gốc ma túy đã bán, cho S và thu giữ khi khám xét khẩn cấp, H khai nhận: Vào đầu tháng 01/2025 H đã mua được 30 viên ma túy hồng phiến của một người đàn ông tự xưng tên H2, không rõ nhân thân, lai lịch tại tỉnh Nghệ An với giá 2.400.000 đồng. Số ma túy này H mang về nhà một mình sử dụng hết 05 viên, ngày 03/01/2025 H bán cho S 04 viên ma túy hồng phiến với giá 500.000 đồng, ngày 20/01/2025 H cho S 02 viên, còn 19 viên ma túy còn lại, H cất giấu nhằm mục đích để bán.

Kết luận giám định ma túy số 530/KL-KTHS ngày 23/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh T xác định: 19 viên nén hình tròn màu đỏ thu giữ của Lê Đức H là ma túy, có tổng khối lượng 1,870 gam, loại Methamphetamine. Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Quản Hữu S, Ngô Thị T1.

Quá trình điều tra Quản Hữu S, Lê Đức H thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được.

Về vật chứng vụ án:

  • - 01 chai nhựa màu trắng, phần thân chai có gắn ống cuộn bằng tờ tiền do Ngân hàng N1 phát hành mệnh giá 1.000 đồng; 01 mảnh giấy bạc bị cháy xém; 01 bật lửa ga;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax thu giữ của Lê Đức H.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Joy 3 thu giữ của Quãn Hữu S1.
  • - Mẫu vật còn lại sau giám định gồm: Toàn bộ vỏ bao gói niêm phong và 17 viên nén hình tròn màu đỏ có tổng khối lượng là 1,674 gam. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Lại Thị Thanh L1, Lê Huy C và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T.

Tại bản Cáo trạng số 112/CT-VKSNDTP ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Quản Hữu S về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý" theo qui định tại khoản 1 Điều 255 BLHS; Lê Đức H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qui định tại khoản 1 Điều 251-BLHS.

Tại phiên tòa:

  • - Các bị cáo thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
  • - Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: khoản 1 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS (đối với Quản Hữu S);

Áp dụng: khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS (đối với Lê Đức H).

Xử phạt:

  • - Bị cáo Quản Hữu S từ 36 đến 39 tháng tù.
  • - Bị cáo Lê Đức H từ 42 đến 45 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản và không có nghề nghiệp ổn định. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 chai nhựa màu trắng, phần thân chai có gắn ống hút.
  • - 01 mảnh giấy bạc bị cháy xém;
  • - 01 bật lửa ga;
  • - Mẫu vật còn lại sau giám định gồm: Toàn bộ vỏ bao gói niêm phong và 17 viên nén hình tròn màu đỏ có tổng khối lượng là 1,674 gam. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Lại Thị Thanh L1, Lê Huy C và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 tờ tiền do Ngân hàng N1 phát hành mệnh giá 1.000 đồng.

Tịch thu phát mãi sung công quỹ nhà nước:

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax thu giữ của Lê Đức H.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Joy 3 thu giữ của Quản Hữu S.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật

Tại phiên tòa các bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra C1 Hoá, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố thanh Hoá, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận: Rạng sáng ngày 20/01/2025, tại phòng trọ số D số nhà A L, phường Đ, thành phố T, Quản Hữu S đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine cho bản thân và Ngô Thị T1 sử dụng. Số ma túy do S sử dụng là của Lê Đức H cho.

Ngày 03/02/2025 Lê Đức H đã có hành vi bán trái phép 04 viên ma túy loại Methamphetamine cho Quản Hữu S và cất giấu 19 viên ma túy, có tổng khối lượng 1,870 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích để bán.

[3] Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa. Do đó cáo trạng và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của Quản Hữu S đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 BLHS; Bị cáo Lê Đức H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm:

Quản Hữu S đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine cho bản thân và Ngô Thị T1 sử dụng. Số ma túy do S sử dụng là của Lê Đức H cho.

Lê Đức H đã có hành vi bán trái phép 04 viên ma túy loại Methamphetamine cho Quản Hữu S và cất giấu 19 viên ma túy, có tổng khối lượng 1,870 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích để bán.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm, hành vi của các bị cáo không những đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi của các bị cáo là nguyên nhân tệ nạn nghiện ma túy, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, lây truyền bệnh HIV... Do đó cần được đưa ra xử lý nghiêm minh theo pháp luật hình sự. Vì vậy cần phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục cải tạo và phòng ngừa chung.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Đức H không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Bị cáo Quản Hữu S có 01 tiền án chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, bị cáo có nhân thân xấu ngày 24/9/2019 bị Công an phường Đ, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản (Quyết định số 11152/QĐ-XPHC). Ngày 30/12/2021 bị Công an xã T, huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản (Quyết định số 0076366/QĐ-XPHC). Năm 2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bị cáo Lê Đức H có nhân thân xấu Ngày 21/6/2014 bị Công an phường Đ, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau” (Quyết định số 83/QĐ-XLVPHC).

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo Quản Hữu S và bị cáo Lê Đức H đã thành khẩn khai báo có thái độ ăn năn, hối cải, đầu thú đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản và không có nghề nghiệp ổn định. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy đã bán, cho S và thu giữ khi khám xét khẩn cấp, H khai nhận: Vào đầu tháng 01/2025 H đã mua được 30 viên ma túy hồng phiến của một người đàn ông tự xưng tên H2, không rõ nhân thân, lai lịch tại tỉnh Nghệ An với giá 2.400.000 đồng. Số ma túy này H mang về nhà một mình sử dụng hết 05 viên, ngày 03/01/2025 H bán cho S 04 viên ma túy hồng phiến với giá 500.000 đồng, ngày 20/01/2025 H cho S 02 viên, còn 19 viên ma túy còn lại, H cất giấu nhằm mục đích để bán.

[7] Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy :

  • - 01 phong bì ma tuý niêm phong của phòng K Công an tỉnh T, có hình dấu của Phòng K kèm chữ ký viết của Nguyễn Trần Đ, Lê Huy C, Lại Thị Thanh L1.
  • - 01 chai nhựa màu trắng, phần thân chai có gắn ống hút.
  • - 01 mảnh giấy bạc.
  • - 01 bật lửa ga.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 tờ tiền do Ngân hàng N1 phát hành mệnh giá 1.000 đồng.

Tịch thu phát mãi sung công quỹ nhà nước:

  • - 01 điện thoại di động Iphone 12 Peo Max, số Imel: 358686419708502, điện thoại gắn kèm sim, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong thu giữ của Lê Đức H.
  • - 01 điện thoại di động Vsmart, theo biên bản làm việc ngày 20/01/2025 của Công an thành phố T, điện thoại cài mật khẩu nhận diện khuôn mặt và dấu vân tay, do đó không đăng nhập được vào thiết bị nên không kiểm tra được số loại và I của máy, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong thu giữ của Quản Hữu S.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ: Khoản 1 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS (đối với Quản Hữu S).

Căn cứ: Khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS (đối với Lê Đức H).

Khoản 2 Điều 135 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên bố: Bị cáo Quản Hữu S phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và bị cáo Lê Đức H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

  • - Bị cáo Quản Hữu S 39 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 20/01/2025.
  • - Bị cáo Lê Đức H 45 Tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 20/01/2025.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 phong bì ma tuý niêm phong của phòng K Công an tỉnh T, có hình dấu của Phòng K kèm chữ ký viết của Nguyễn Trần Đ, Lê Huy C, Lại Thị Thanh L1.
  • - 01 chai nhựa màu trắng, phần thân chai có gắn ống hút.
  • - 01 mảnh giấy bạc.
  • - 01 bật lửa ga.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 tờ tiền do Ngân hàng N1 phát hành mệnh giá 1.000 đồng.

Tịch thu phát mãi sung công quỹ nhà nước:

  • - 01 điện thoại di động Iphone 12 Peo Max, số Imel: 358686419708502, điện thoại gắn kèm sim, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong thu giữ của Lê Đức H.
  • - 01 điện thoại di động Vsmart, theo biên bản làm việc ngày 20/01/2025 của Công an thành phố T, điện thoại cài mật khẩu nhận diện khuôn mặt và dấu vân tay, do đó không đăng nhập được vào thiết bị nên không kiểm tra được số loại và I của máy, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong thu giữ của Quản Hữu S.

Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại cơ quan Thi hành án Dân sự thành phố T, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 87/2025/THA ngày 28/02/2025 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

Về án phí: Buộc bị cáo Quản Hữu S và Lê Đức H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận :

  • - TAND Tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND TP Thanh Hoá;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hoá ;
  • - Văn phòng CSĐT Công an TP Thanh Hoá ;
  • - Cơ quan THADS TP Thanh Hoá;
  • - Cơ quan THADS TP Thanh Hoá ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trịnh Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2025/HSST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 180/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger