|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 180/2025/DS - PT
Ngày: 28-02-2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Doãn Thị Kim Thúy.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tiến Dũng.
Bà Nguyễn Thị Thoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lành, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ái - Kiểm sát viên.
Vào ngày 27 và 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 800/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 150/2024/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5734/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 17386/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18754/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng Liên doanh V3. Trụ sở: Tầng 1 - Tầng B, Số A, phố Y, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Trọng T, ông Đỗ Huy C, ông Nguyễn Xuân S. Cùng địa chỉ liên lạc: 107-109-111 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Là người đại diện theo ủy quyền - Quyết định ủy quyền số 58/QĐ-XLN ngày 26/02/2025 của Ngân hàng Liên doanh V3).
Bị đơn: Ông Lê Hoàng L, (chết năm 2014). Địa chỉ: 4 Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bị đơn:
- - Bà Lê Thị Mỹ V, sinh năm 1949. Địa chỉ: 1, T, T, L, Đồng Tháp;
- - Bà Lê Kim V1, sinh năm 1951. Địa chỉ: 8, T, T, L, Đồng Tháp;
- - Bà Lê Thị Ngọc V2, sinh năm 1953. Địa chỉ: 5, T, T, L, Đồng Tháp;
- - Ông Lê Bảo L1, sinh năm 1957. Địa chỉ: 1 V, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;
- - Bà Lê Thị Kim P, sinh năm 1958. Thường trú: 58/2 TLA, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp;
- - Bà Lê Thị Ngọc P1, sinh năm 1960. Thường trú: 129/TLA, T, T, L, Đồng Tháp;
Người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị Ngọc P1 là: Bà Nguyễn Minh D, sinh năm 2001. Địa chỉ: F H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Là người đại diện theo ủy quyền – Giấy ủy quyền ngày 08/5/2024)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1959;
- - Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1958;
Cùng địa chỉ: C N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị T2 là: Ông Nguyễn Văn T1. (Là người đại diện theo ủy quyền – Giấy ủy quyền ngày 11/3/2014)
- - Bà Trương Huỳnh Minh T3, sinh năm 1996. Địa chỉ: B V, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện theo uỷ quyền người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Huỳnh Minh T3 là: Ông Huỳnh Minh C1, sinh năm 1955. (Là người đại diện theo ủy quyền – Giấy ủy quyền ngày 29/7/2023)
- - Bà Huỳnh Thị Cẩm N, sinh năm 1957;
- - Ông Nguyễn Tấn T4, sinh năm 1995;
- - Trẻ Nguyễn Ngọc Gia H, sinh năm 2016;
- - Trẻ Nguyễn Hoàng Thiên P2, sinh năm 2018;
Cùng địa chỉ: B V, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ông Nguyễn Tấn T4 và bà Trương Huỳnh Minh T3 là đại diện theo pháp luật của hai trẻ Gia H và Thiên P2).
Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1.
2
(Ông S, ông T1 có mặt; ông C1 xin vắng mặt; Các đương sự khác vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng Liên doanh V3 có ông Nguyễn Xuân S là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 19/04/2012, ông Lê Hoàng L ký hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 16/2012/HĐTD với Ngân hàng Liên doanh V3 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng V4 - V5) với số tiền là 2.000.000.000 đồng, thời hạn 12 tháng, mục đích vay: Mua đất; Lãi suất vay: Thả nổi, 21%/năm kỳ đầu tiên. Điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10 theo lãi suất cho vay ngắn hạn công bố tại từng thời điểm của V5. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 01/07/2012. Phương thức trả gốc và lãi: Lịch trả nợ gốc: cuối kỳ: 2.000.000.000 đồng; Lãi được trả vào ngày 30 hàng tháng. Bên vay đã nhận nợ theo các Bảng kê rút vốn ngày 20/04/2012 của Ngân hàng V4.
Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và lãi quá hạn và các khoản phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng trên, các bên đã ký hợp đồng thế chấp số 03/2012/HĐTC ngày 19/04/2012 thế chấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ B B (số mới là B V), phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, hồ sơ gốc số: 996/2000 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 31/01/2000 cập nhật thay đổi cho ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 đứng tên chủ sở hữu tại Trung tâm Thông tin và đăng ký nhà đất ngày 12/9/2002. Thực hiện công chứng số: 013990, quyển số: 04/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/04/2012 tại Phòng C2; Đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 20/04/2012 tại Phòng T7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong quá trình vay, ông L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không thực hiện đúng như hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên.
Nay nguyên đơn yêu cầu Toà án xác định số tiền còn thiếu của ông Lê Hoàng L theo khoản vay của Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 16/2012/HĐTD ngày 19/4/2012 tạm tính đến ngày 06/6/2024 là 5.659.705.882 đồng, trong đó nợ gốc là 2.000.000.000 đồng; Lãi trong hạn là 143.330.882 đồng; Lãi quá hạn là 3.516.375.000 đồng. Và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh và các chi phí khác kể từ ngày 07/6/2024 cho đến khi bên vay bảo đảm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Sau khi Toà án xác định nghĩa vụ trả nợ của ông L phải thực hiện nghĩa vụ đối với nguyên đơn thì nguyên đơn yêu cầu người bảo lãnh là ông T2, bà T2 có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của ông L. Trường hợp ông T2 và bà T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì Ngân hàng V4 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2012/HĐTC ngày 19/04/2012 là nhà, đất theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ B B (số mới là B
3
V), phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, hồ sơ gốc số: 996/2000 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 31/01/2000, cập nhật thay đổi cho ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 đứng tên chủ sở hữu tại Trung tâm Thông tin và đăng ký nhà đất ngày 12/9/2002. Thực hiện công chứng số: 013990, quyển số: 04/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/04/2012 tại phòng C2; Đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 20/04/2012 tại Phòng T7, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ. Do những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông L cũng thuộc hàng thừa kế của ông L không được nhận di sản từ ông L để lại nên nguyên đơn không yêu cầu những người này phải trả nợ cho ông L đối với Ngân hàng.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án:
Trong quá trình Toà án thụ lý và giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, ông L thừa nhận toàn bộ khoản vay của nguyên đơn, tuy nhiên do bị đơn cư trú tại Quận A nên Tòa án nhân dân Quận 1 chuyển vụ án về Tòa án nhân dân Quận 10 giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 03/11/2014, ông L chết, Ngân hàng V4 và ông T2 không liên lạc được với những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông L.
Từ khi Tòa án xác minh được thông tin của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông L là các ông/bà M, Kim V1, Ngọc V2, Bảo L1, Kim P cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Toà án đã tiến hành triệu tập nhiều lần những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông L1 đến Toà để tiến hành lấy lời khai, mở phiên họp công khai chứng cứ, hoà giải và tham gia phiên tòa nhưng các ông, bà có tên trên đều từ chối nhận văn bản, vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến phản đối.
Riêng người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông L1 là bà Lê Thị Ngọc P1 có bà Nguyễn Minh D đại diện theo uỷ quyền trình bày: Bà là chị gái của ông L1, cha mẹ của ông L1 đã chết trước ông L1. Nhà, đất số 45/6/4 Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc sở hữu của ông L1 được kê biên bởi Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 theo Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 05/2014/HGT-DS ngày 17/01/2014 của Toà án nhân dân Quận 10 và Quyết định thi hành án số 854/QĐ-CCTHSDS ngày 05/3/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 theo yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng N2 với số tiền nợ của ông Lâm T5 đến ngày 03/7/2016 là 5.638.090.131 đồng. Trong thời gian thi hành các quyết định trên, ông L1 chết và để lại di sản thừa kế là nhà, đất số 45/6/4 Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Để tiếp tục thực hiện thi hành các quyết định này, những người thừa kế của ông L1 đã cử bà P1 làm đại diện thay mặt gia đình giải quyết các vấn đề về nghĩa vụ tài sản đối với di sản thừa kế nhà, đất trên để thi hành nghĩa vụ đối với Ngân hàng N2. Toàn bộ số tiền chuyển nhượng di sản là nhà, đất số 45/6/4 Đường C, Phường A, Quận A được bà P1 và ông Lê Khoa N1 (người nhận chuyển nhượng) nộp vào Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, chi trả thuế, phí chuyển nhượng và các chi phí khác liên quan đến việc thực hiện
4
nghĩa vụ của ông L1 và Nhà nước. Do vậy, việc chuyển nhượng di sản của ông L1 để thực hiện nghĩa vụ của ông L1 đã được bà P1 và các đồng thừa kế thực hiện và không được hưởng bất kỳ lợi ích và quyền tài sản nào của ông L1 để lại.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 trình bày:
Ông cũng là đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T2 thừa nhận Ngân hàng V4 trình bày là đúng. Do ông L1 chết nên ông đề nghị Ngân hàng V4 không tính lãi để ông có thể thanh toán hết nợ gốc cho khoản nợ của ông L1 mà vợ chồng ông đã bảo lãnh tại Ngân hàng V4 theo Hợp đồng thế chấp số 03/2012/HĐTC ngày 19/4/2012 tại Phòng C2, số công chứng 013990 quyển số 04/TP/CC/HĐGD, tài sản được đăng ký giao dịch đảm bảo tại Văn phòng Đ ngày 20/4/2012. Trường hợp ông không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nghĩa vụ của ông L1 cho Ngân hàng V4, ông đồng ý phát mãi nhà, đất theo Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở địa chỉ B B (số mới là B V), phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, hồ sơ gốc số: 996/2000 do UBND Thành phố H cấp ngày 31/01/2000 để ngân hàng thu hồi nợ.
Đối với lời khai của bà D1, ông C1 thì ông T2 trình bày: Việc mua bán chuyển nhượng nhà, đất trên là hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Sau khi chuyển nhượng ông C1 ký hợp đồng thuê nhà với ông và cho em gái là bà D1 ở cho tới nay. Trường hợp nhà, đất nêu trên phát mãi ông không có ý kiến về việc gia đình ông C1 muốn mua lại nhà, đất nêu trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Huỳnh Minh T3, bà Huỳnh Thị Mỹ D1 (chết ngày 10/9/2022) trình bày tại bản tự khai ngày 19/12/2016 và tháng 5/2022:
Năm 1999, ông D1 và bà Mỹ D1 thỏa thuận mua bán nhà đất số B B (số mới là B V), phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh do chưa có sổ hồng nên năm 2000, gia đình mới làm thủ tục hợp thức hóa nên đã để cho mẹ bà là bà Trần Thị T6 đứng tên dùm trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở. Năm 2002, bà cần làm thủ tục chuyển hộ khẩu thì biết mẹ bà đã làm thủ tục ủy quyền cho anh trai bà là ông Huỳnh Minh C1. Ngày 09/8/2002, ông C1 mượn tiền của ông T2 hai đợt tổng số tiền là 250.000.000 đồng, thời hạn vay 15 ngày và thế chấp giấy tờ nhà đất cho ông T2. Do ông C1 không có khả năng trả nợ nên hai bên đã lập Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất nêu trên cho ông T2. Ông T2 dùng giấy tờ nhà, đất này thế chấp cho Ngân hàng V4 để đảm bảo khoản nợ cho ông L1. Do lỗi thuộc về Ngân hàng V4 khi thực hiện thế chấp đã không xác minh tài sản thế chấp, nên gia đình muốn mua lại khoản nợ của Ngân hàng V4 để tái lập quyền sở hữu hợp pháp nhà, đất nêu trên.
Ông Huỳnh Minh C1 đại diện cho bà Trương Huỳnh Minh T3 trình bày tại bản tự khai:
5
Do các ông bà đang ở trong căn nhà này là những người liên quan của nguyên đơn và bị đơn. Ông đề xuất nguyện vọng do trước đây giữa ông và ông T2 có giao dịch vay tiền chứ không phải mua bán chuyển nhượng nhà, nay căn nhà này các ông bà vẫn đang quản lý, sử dụng nên có nguyện vọng được ưu tiên mua căn nhà trên khi ngân hàng phát mãi tài sản theo giá hợp lý và xin được vắng mặt trong các buổi làm việc, xét xử của Tòa án. Ngoài ra ông không có yêu cầu nào khác.
Ông Nguyễn Tấn T4, bà Huỳnh Thị Cẩm N, hai trẻ Gia H và Thiên P2 vắng mặt và không có ý kiến.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 150/2024/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
- Xác định ông Lê Hoàng L phải thực hiện nghĩa vụ đối với Ngân hàng Liên doanh V3 số tiền tạm tính đến ngày 06/6/2024 là 5.659.705.882 (Năm tỷ, sáu trăm năm mươi chín triệu, bảy trăm lẻ năm nghìn tám trăm tám mươi hai) đồng. Trong đó nợ gốc là 2.000.000.000 (Hai tỷ) đồng; lãi trong hạn là 143.330.882 (Một trăm bốn mươi ba triệu, ba trăm ba mươi nghìn, tám trăm tám mươi hai) đồng; lãi quá hạn là 3.516.375.000 (Ba tỷ, năm trăm mười sáu triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.
Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật, nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 [là bên thế chấp đối với bên vay/ bên được bảo lãnh (ông Lê Hoàng L)] có trách nhiệm liên đới trả ngay cho Ngân hàng Liên doanh V3 số tiền tính đến ngày 06/6/2024 là 5.659.705.882 (Năm tỷ, sáu trăm năm mươi chín triệu, bảy trăm lẻ năm nghìn tám trăm tám mươi hai) đồng. Trong đó nợ gốc là 2.000.000.000 (Hai tỷ) đồng; lãi trong hạn là 143.330.882 (Một trăm bốn mươi ba triệu, ba trăm ba mươi nghìn, tám trăm tám mươi hai) đồng; lãi quá hạn là 3.516.375.000 (Ba tỷ, năm trăm mười sáu triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.
- Trường hợp ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì Ngân hàng Liên doanh V3 được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm cùng toàn bộ vật phụ và tài sản gắn liền với đất là: quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tọa lạc tại thửa đất số 2, tờ bản đồ số 5, S - Thái Bình, địa chỉ B B (số mới là B V), phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở
6
hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số: 996/2000 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 31/01/2000 cập nhật thay đổi cho ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 đứng tên chủ sở hữu tại Trung tâm Thông tin và đăng ký nhà đất ngày 12/9/2002 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2012/HĐTC ngày 19/4/2012 được công chứng số: 013990, Quyển số: 04 TP/CC-SCC/HĐGDPhòng Công chứng số 4, Thành phố Hồ Chí Minh ngày ngày 19/4/2012 để thu hồi nợ.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với Ngân hàng Liên doanh V3. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết khoản nợ của ông L cho Ngân hàng Liên doanh V3 thì ông T2 và bà T2 không có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại, do ông T2 và bà T2 chỉ thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi bảo lãnh bằng tài sản là nhà, đất số B B (số mới là B V), phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 25/6/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Nguyễn Văn T1 trình bày:
Ông vẫn giữ nguyên kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự hủy bản án sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, với lý do:
Hợp đồng tín dụng ngắn hạn được ký giữa ông Lê Hoàng L và Ngân hàng V3 có thời hạn là 01 năm bắt đầu từ ngày 19/4/2012 đến ngày 18/4/2013. Tuy nhiên chưa hết thời hạn thực hiện hợp đồng thì đến ngày 15/4/2013 Ngân hàng V4 đã nộp đơn khởi kiện và Tòa án nhân dân Quận 1 đã thụ lý như vậy đã vi phạm khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 159 Bộ luật Tố Tụng Dân sự năm 2004 về thời hiệu khởi kiện, bản án đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự.
Đại diện nguyên đơn trình bày:
Nguyên đơn không đồng ý toàn bộ kháng cáo của ông T1, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ông T1 đại diện cho bà T1 trình bày: Đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ông T1 và không có ý kiến gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của những người
7
tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh luận tại phiên tòa, xét thấy kháng cáo của ông T1 không có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 nộp trong thời hạn luật định phù hợp khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên được chấp nhận.
[1.2] Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bị đơn gồm bà Mỹ V, bà Kim V1, bà Ngọc V2, ông Bảo L1, bà Kim P, bà Ngọc P1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà T3, bà N, ông T4 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, trong đó có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, kèm Giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung kháng cáo, xét yêu cầu kháng cáo của ông T1:
[2.1] Căn cứ bản tự khai ngày 13/6/2013 của ông Lê Hoàng L, biên bản hoà giải ngày 06/8/2013 của Toà án nhân dân Quận 1 và Hợp đồng tín dụng số 16/2012/HĐTD ngày 19/4/2012, Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ ngày 07/3/2012, các Bản kê rút vốn ngày 20/4/2012 có cơ sở xác định ông Lê Hoàng L có ký hợp đồng tín dụng vay của Ngân hàng V4 số tiền 2.000.000.000 đồng, từ ngày nhận nợ đến nay do khó khăn về kinh tế nên ông Lê Hoàng L chưa trả nợ số tiền 2.000.000.000 đồng và lãi theo quy định.
Theo Điều 4 của hợp đồng tín dụng số 16/2012/HĐTD ngày 19/4/2012 ông L có trách nhiệm thanh toán lãi vay định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 30 mỗi tháng, do ông L không thực hiện việc trả lãi nên Ngân hàng căn cứ khoản 7 Điều 9 của Hợp đồng tín dụng khởi kiện ông L mặc dù hợp đồng chưa đến ngày đáo hạn là đúng quy định vì vậy ông T1 cho rằng Tòa án thụ lý khi chưa hết hạn thực hiện hợp đồng là không có căn cứ pháp luật.
Đối với số tiền nợ gốc: Quá trình giải quyết vụ án ông T1 và bà T1 đồng ý thanh toán số tiền nợ gốc là 2.000.000.000 đồng thay cho ông L, xét hợp đồng thế chấp bất đồng sản số 02/2012/HĐTC ngày 19/4/2012 không có điều khoản nào quy định ông bà T1 thanh toán số tiền nợ thay cho ông L khi ông L không
8
có khả năng thanh toán vì vậy bản án sơ thẩm tuyên buộc ông bà T1 có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc thay thế cho ông L là không có cơ sở tuy nhiên vì ông T1 và bà T1 tự nguyện thanh toán số tiền nợ còn thiếu của ông L do đó cần ghi nhận ý kiến của ông T1 bà T1.
[2.2] Đối với tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn:
[2.2.1] Lãi suất trong hạn: Theo quy định tại điểm 2.1 khoản 2 Điều 2 của Hợp đồng tín dụng số 16/2012/HĐTD ngày 19/4/2012, bảng kê rút vốn (nhận nợ vay) ngày 20/4/20212 các bên thống nhất lãi suất cho vay là 21%/năm kỳ đầu tiên. Điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần vào các ngày 01/01, 01/4, 01/7 và 01/10 theo lãi suất cho vay ngắn hạn công bố tại từng thời điểm của Ngân hàng V4. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 01/7/2017, lãi được trả vào ngày 30 hàng tháng. Như vậy, ngân hàng V4 và ông L đã thoả thuận về lãi suất theo Hợp đồng tín dụng trên.
[2.2.2] Lãi suất quá hạn: Theo quy định tại điểm 2.2 khoản 2 Điều 2 của Hợp đồng tín dụng số 16/2012/HĐTD ngày 19/4/2012 quy định lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn (lãi suất vay đã được điều chỉnh nếu có) nêu tại điểm 2.1 của Hợp đồng tín dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Ngày 20/4/2013, ông L không thực hiện nghĩa vụ nên Ngân hàng V4 đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn, lãi suất nợ quá hạn cũng được Ngân hàng V4 điều chỉnh theo mức lãi suất phù hợp với quy định của Ngân hàng N3.
[2.2.3] Theo quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ theo hợp đồng tín dụng”. Xét thấy, đến kỳ hạn trả nợ phía bị đơn không trả được nợ nên nguyên đơn yêu cầu chuyển toàn bộ dư nợ hiện có của hợp đồng tín dụng sang nợ quá hạn là phù hợp với quy định về chuyển nợ quá hạn. Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Căn cứ Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Thống đốc Ngân hàng N3 hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng tiền đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, nên Ngân hàng là tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng là không trái pháp luật.
Như đã nhận định ở phần trên do hợp đồng thế chấp không quy định ông bà T1 phải có nghĩa vụ trả nợ thay cho ông L do đó bản án sơ thẩm buộc ông bà T1 thanh toán khoản tiền lãi 3.516.375.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận, cần sửa bản án sơ thẩm. Các phần khác của bản án được giữ nguyên.
[3] Về án phí dân sự:
[3.1] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 12, Điều 14, Điều 15, Điều 26, và Điều 48 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
9
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- - Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên Ngân hàng Liên doanh V3 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Liên doanh V3 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 37.258.333 (Ba mươi bảy triệu, hai trăm năm mươi tám nghìn, ba trăm ba mươi ba) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AD/2011/06789 ngày 08/5/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
[3.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 do thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463 và khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Luật Thi hành án Dân sự; Điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1. Sửa một phần bản án sơ thẩm.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Xác định ông Lê Hoàng L phải thực hiện nghĩa vụ đối với Ngân hàng Liên doanh V3 số tiền tạm tính đến ngày 06/6/2024 là 5.659.705.882 (Năm tỷ, sáu trăm năm mươi chín triệu, bảy trăm lẻ năm nghìn, tám trăm tám mươi hai) đồng. Trong đó nợ gốc là 2.000.000.000 (Hai tỷ) đồng; Lãi trong hạn là 143.330.882 (Một trăm bốn mươi ba triệu, ba trăm ba mươi nghìn, tám trăm tám mươi hai) đồng; Lãi quá hạn là 3.516.375.000 (Ba tỷ, năm trăm mười sáu triệu, ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.
Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận
10
nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; Nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Ghi nhận Ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 [là bên thế chấp đối với bên vay/ bên được bảo lãnh (ông Lê Hoàng L)] đồng ý chịu trách nhiệm liên đới trả ngay cho Ngân hàng Liên doanh V3 số tiền nợ gốc 2.000.000.000 (Hai tỷ) đồng.
- Ngân hàng Liên doanh V3 được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm cùng toàn bộ vật phụ và tài sản gắn liền với đất là: Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tọa lạc tại thửa đất số 2, tờ bản đồ số 5, S - Thái Bình, địa chỉ B B (số mới là B V), phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số: 996/2000 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 31/01/2000 cập nhật thay đổi cho ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 đứng tên chủ sở hữu tại Trung tâm Thông tin và đăng ký nhà đất ngày 12/9/2002 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2012/HĐTC ngày 19/4/2012 được công chứng số: 013990, Quyển số: 04 TP/CC-SCC/HĐGDPhòng Công chứng số 4, Thành phố Hồ Chí Minh ngày ngày 19/4/2012 để thu hồi nợ.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với Ngân hàng Liên doanh V3. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết khoản nợ của ông L cho Ngân hàng Liên doanh V3 thì ông T2 và bà T2 không có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại, do ông T2 và bà T2 chỉ thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi bảo lãnh bằng tài sản là nhà, đất số B B (số mới là B V), phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về chi phí tố tụng là: 10.000.000 (Mười triệu) đồng. Ngân hàng Liên doanh V3 tự nguyện chịu.
- Về án phí dân sự:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Nguyên đơn Ngân hàng Liên doanh V3 không phải chịu. Hoàn trả cho Ngân hàng Liên doanh V3 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 37.258.333 (Ba mươi bảy triệu, hai trăm năm mươi tám nghìn, ba trăm ba mươi ba) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AD/2011/06789 ngày 08/5/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 được miễn.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 được miễn.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
11
thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Doãn Thị Kim Thúy |
12
Bản án số 180/2025/DS - PT ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 180/2025/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
