|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 180/2021/HSST
Ngày 29 tháng 11 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Liệu; Bà Nguyễn Thị Quy
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thanh Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Định Quán đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 166/2024/TLST-HS ngày 01/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2024/QĐXXST-HS ngày 29/10/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 347/2024/HSST-QĐ ngày 08/11/2024 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Phạm Sơn L – sinh năm 1979 tại Thành phố Hồ Chí Minh
Nơi cư trú: B, đường N, phường G, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Phạm Đức N (không rõ năm sinh) và bà Vũ Thị L1 (không rõ năm sinh); Vợ, Con: Chưa có ; Tiền sự: Không; Tiền án: 03
- Tại Bản án số 60/2005/HSST ngày 07/6/2005 của Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Phạm Sơn L 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2006.
- Tại Bản án số 27/2007/HSST ngày 29/01/2007 của Toà án nhân dân Quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Phạm Sơn L 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/5/2013.
- Tại Bản án số 36/2016/HSST ngày 03/02/2016 của Toà án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt Phạm Sơn L 06 năm 11 tháng 3 ngày về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/11/2020.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/8/2023 đến nay “có mặt”.
-1-
2/ Họ và tên: Nguyễn Phạm Tùng S – sinh năm 1988 tại Đồng Nai .
Nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn P – sinh năm 1956 và bà Phạm Thị B – sinh năm 1959; Vợ con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: 03
- Tại Bản án số 149/2006/HSST ngày 08/6/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xử phạt Nguyễn Phạm Tùng S 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”, 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt chung là 09 năm 06 tháng tù giam. Chấp hành xong hình phạt ngày 06/10/2012.
- Tại bản án số 143/2013/HSST ngày 06/11/2013 của Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt Nguyễn Phạm Tùng S 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt ngày 27/4/2017.
- Tại Bản án số 37/37/2018/HSST ngày 17/5/2018 của Toà án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt Nguyễn Phạm Tùng S 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”
- Tại Bản án số 71/2018/HSST ngày 02/10/2018 của Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt Nguyễn Phạm Tùng S 02 năm tù; tổng hợp hình phạt 02 năm 06 tháng tù của bản án số 37/2018/HSST ngày 17/5/2018 của Toà án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/3/2018.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/8/2023 đến nay “có mặt”.
3/ Họ và tên: Trần Quang V – sinh năm 1984 tại Đồng Nai
Nơi cư trú: Tổ A, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Quang Đ – sinh năm 1952 và bà Mai Thị H - sinh năm 1954; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Tiền án: 03.
- Tại Bản án số 20/2014/HSST ngày 26/02/2014 của Toà án nhân dân huyện Định Quán xử phạt Trần Quang V 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 03/9/2014. Đã nộp án phí HSST là 200.000đồng vào tháng 7/2014.
- Tại Bản án số 67/2015/HSST ngày 04/6/2015 của Toà án nhân dân huyện Định Quán xử phạt Trần Quang V 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 15/5/2016. Đã nộp án phí HSST là 200.000đồng vào tháng 11/2015.
- Tại Bản án số 80/2018/HS-ST ngày 30/10/2018 của Toà án nhân dân huyện Định Quán xử phạt Trần Quang V 05 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/01/2023. Đã nộp án phí HSST là 200.000₫ vào tháng 03/2019.
-2-
Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/8/2023, áp dụng biện pháp “Bảo lĩnh” được tại ngoại ngày 07/02/2024.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” từ ngày 10/7/2024 đến nay “có mặt”.
Tại bản án số 168/2024/HSST ngày 18/11/2024 của TAND huyện Định Quán đã xử phạt 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 10/07/2024 (án chưa có hiệu lực).
4/ Họ và tên: Lê Hoài A – sinh năm 1991 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Tổ C, ấp E, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 1/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn C – sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị H1 - sinh năm 1968; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không
* Tiền sự: Tại Quyết định cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng số 12/QĐ-UBND ngày 28/01/2023 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện T buộc Lê Hoài A chấp hành cai nghiện ma tuý tại gia đình, cộng đồng thời gian từ ngày 28/01/2023 đến ngày 28/6/2023. Hiện Bị can phải chấp hành quan lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú từ ngày 09/8/2023 đến ngày 09/8/2025 theo Quyết định số 266/QĐ-UBND ngày 09/8/2023 của Ủy ban nhân dân xã P.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/8/2023, áp dụng biện pháp “Bảo lĩnh” được tại ngoại ngày 23/4/2024 đến nay “có mặt”.
5/ Họ và tên: Nguyễn Minh V1 – sinh năm 1985 tại Đồng Nai.
Nơi thường trú: Tổ D, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (Nơi tạm trú: Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai); Nghề nghiệp: Thu mua ve chai; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Nguyễn Văn Đ1 – sinh năm 1961 và bà Bùi Thị T - sinh năm 1961; Sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị T1 – sinh năm 1992 và có 04 con (lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo được khởi tố tại ngoại, áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến ngày 19/12/2023 bị bắt về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và bị giam cho đến nay “có mặt”.
Tại Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 07/5/2024 của TAND huện Định Quán đã xét xử Nguyễn Minh V1 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023
6/ Họ và tên: Nguyễn Huy B1 – sinh năm 1982 tại Bắc Giang
Nơi cư trú: Tổ A, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn G– sinh năm 1950 và bà Đào Thị H2 - sinh năm 1960; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
* Về nhân thân:
-3-
+ Năm 2010 bị Công an huyện Đ đưa đi cơ sở giáo dục với thời hạn 02 năm về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; chấp hành xong ngày 20/8/2012.
+ Tại Quyết định số 13/2023/QĐ-TA ngày 21/4/2023 của TAND huyện Định Quán đã xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc với thời hạn 02 năm.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 20/11/2024 đến nay “có mặt”.
- Bị hại:
1/ Bà Huỳnh Thị H3 - sinh năm 1975; Địa chỉ: Ấp I, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
2/ Anh Sơn Đ2 – sinh năm 1996, trú tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
3/ Chị Nguyễn Thị Việt A1 – sinh năm 1986, Địa chỉ: Ấp B, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đinh Thị Thu H4 - sinh năm 1987; Trú tại: Ấp T, xã P, huyện T, Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất:
Nguyễn Phạm Tùng S, Trần Quang V và Nguyễn Huy B1 là bạn bè quen biết với nhau. Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 11/03/2023, Trần Quang V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirirus màu đen, biển số 60P6-0333 chở Nguyễn Phạm Tùng S đi vào khu vực ấp B, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Khi đi ngang qua nhà chị Nguyễn Thị Việt A1, cả hai phát hiện 01 xe mô tô hiệu Wave S, màu đỏ biển số 60P7-4544 của chị Việt A1 để hông nhà không ai trông coi nên V và S lấy trộm chiếc xe rồi lên xe nổ máy chạy thoát. Sau đó, S đã mang chiếc xe trên đến gặp Nguyễn Huy B1, S có nói cho B1 biết đây là tài sản S đi trộm cắp mà có và nhờ Bình bán dùm, B1 đồng ý. S dắt xe vào phòng trọ của B1 cất giấu để tìm nơi tiêu thụ.
Căn cứ bản Kết luận định giá tài sản ngày 29/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ xác định xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S biển số 60P7-4544 giá trị tài 6.500.000đ (bút lục số 147-149). Chị Việt A1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Vụ thứ hai:
Nguyễn Phạm Tùng S, Lê Hoài A và Nguyễn Minh V1 là bạn bè quen biết với nhau. Vào sáng ngày 08/08/2023, Lê Hoài A đến chơi nhà của Nguyễn Phạm Tùng S. Đến khoảng 10 giờ sáng cùng ngày, S điều khiển xe mô tô hiệu Exciter màu đen biển số 60H6- 090.91 chở Hoài A đến khu vực xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi ngang qua bà Huỳnh Thị H3, cả hai thấy có xe mô tô hiệu Wave màu đỏ biển số 60B4-000.11 của bà H3 có gắn chìa khóa trên xe
- 4 -
để trước cửa nhà không ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. S dừng xe ngoài đường cảnh giới; Hoài A đến dắt xe của bà H3 ra ngoài rồi cùng S tẩu thoát.
Sau khi trộm được xe, S gọi điện thoại cho Nguyễn Minh V1 nói trộm được xe máy nhờ V1 bán dùm xe, V1 đồng ý. Sau đó S giao xe cho Hoài A chạy xe máy trộm cắp được đến nhà trọ của Minh V1, bán cho V1 xe máy với giá 2.000.000 đồng. Minh V1 đưa cho Hoài A thay biển số xe trộm được bằng biển số 60N9-9607 để tránh bị phát hiện. Tiền bán xe, S và Hoài A đã tiêu xài cá nhân hết.
Căn cứ bản Kết luận định giá tài sản trong Tố tụng hình sự của Hội đồng định giá huyện Đ ngày 16/11/2023 xác định 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S biển số 60B4-000.11 có giá 7.000.000 đồng (Bút lục số 155-157). Tài sản đã thu hồi và trả lại cho bà H3 và bà H3 không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Vụ thứ ba:
Nguyễn Phạm Tùng S và Phạm Sơn L là bạn bè quen biết với nhau. Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 23/08/2023, Nguyễn Phạm Tùng S đến uống nước tại quán giải khát gần cầu B thuộc ấp E, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Tại đây S gặp Phạm Sơn L nên đã rủ L đi trộm cắp tài sản và L đã đồng ý. S điều khiển xe mô tô Honda Vision màu xanh đen đỏ biển số 60B3- 880.55 chở theo L đi đến khu vực ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Ware biển số 83P1- 135.24 của anh S Đầy đang để bên đường, trên xe có cắm sẵn chìa khóa, không có người trông coi. S làm nhiệm vụ cảnh giới; L nổ máy xe và cùng S chạy xe về hướng xã S thì bị người dân phát hiện đuổi theo và bắt giữ cùng tang vật:
- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xanh biển số 60B3- 880.55; 01 nón bảo hiểm màu sơn xanh trắng, 01 đôi giày vải màu xanh dương, 01 nón bảo hiểm màu sơn đỏ sọc trắng, 01 đôi giày vải màu đen, 01 con dao tự chế dài 50cm và 01 cây sắt sửa xe;
- Thu giữ trong túi quần Jean bên phải phía trước của L có 02 bịch nylon được hàn kín, bên trong có chứa các tinh thể màu trắng, L khai là ma tuý đá.
Căn cứ bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Hội đồng định giá huyện Đ ngày 31/8/2023 xác định xe mô tô nhãn hiệu Ware màu đen biển số 83P1-135.24 có giá trị tài sản là 5.667.000đ (bút lục số 150-152). Tài sản đã thu hồi, trao trả tài sản cho anh Đ2, anh Đ2 không yêu cầu bồi thường gì.
Căn cứ Bản Kết luận giám định số 1897/KL-KTHS ngày 30/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ xác định: Mẫu tinh thể màu trắng thu giữ của bị cáo L được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 2,7504 gam, loại Methamphemine (bút lục số 144)
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 10 giờ sáng ngày 19/08/2023, L đi từ nhà đến khu vực bến xe Miền Đ địa chỉ quận B, Tp . tìm gặp một người có tên thường gọi là T2 (L không rõ nhân thân, lai lịch của T2) để hỏi mua một bịch ma túy với giá 400.000 đồng, T2 đồng ý bán ma túy cho L, khi T2 giao ma túy cho L thì T2 đánh rơi một bịch ma túy nhưng T2 không biết, L đã nhặt được. L cất 02 bịch ma túy trong túi quần Jean bên phải để sử dụng dần cho đến ngày 23/08/2023 thì bị bắt quả tang cùng S về hành vi trộm cắp tài sản.
-5-
Quá trình tiến hành tố tụng:
Tại bản Cáo trạng số: 235 /CT-VKSÐQ, ngày 17 tháng 5 năm 2024 của VKSND huyện Định Quán đã truy tố:
- - Phạm Sơn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2, Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- - Nguyễn Phạm Tùng S, Trần Quang V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2, Điều 173 Bộ luật hình sự.
- - Lê Hoài A về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- - Nguyễn Minh V1 và Nguyễn Huy B1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tại Quyết định số 27/2024/HSST – QĐ, ngày 12 tháng 7 năm 2024, Tòa án đã trả hồ sơ điều tra bổ sung (bằng HĐXX), yêu cầu: Tống đạt cáo trạng cho các bị cáo Lê Hoài A, Trần Quang V, Nguyễn Huy B1 và bổ sung tài liệu về nhân thân tất cả các bị cáo.
Kết quả điều tra bổ sung: Tống đạt cáo trạng cho các bị cáo Lê Hoài A, Trần Quang V, Nguyễn Huy B1. Bổ sung các quyết định bắt, tạm giam và các bản án liên quan đến các bị cáo.
Tại phiên tòa, việc tranh tụng diễn ra như sau:
- - Kiểm sát viên giữ nguyên truy tố và đề nghị truy tố:
- + Phạm Sơn L về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm g khoản 2, Điều 173 và điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản và từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- + Nguyễn Phạm Tùng S và Trần Quang V về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo S từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; bị cáo V từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
- + Lê Hoài A về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt từ 09 tháng đến 01 năm tù.
- + Nguyễn Minh V1 và Trần Huy B2 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo mỗi bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
- - Các bị cáo nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
-6-
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ để kết tội đối với bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận tội; lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận:
Vụ thứ nhất:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 11/03/2023, tại ấp B, xã G, huyện Đ, Nguyễn Phạm Tùng S và Trần Quang V đã có hành vi trộm cắp của chị Nguyễn Thị Việt A1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu sơn đỏ - xám đen, biển số 60P7-4544. Sau đó, S đã mang chiếc xe trên đến gặp Nguyễn Huy B1, S có nói cho B1 biết đây là tài sản S đi trộm cắp mà có và nhờ Bình bán dùm, B1 đồng ý để S dắt xe vào phòng trọ của B1 cất giấu. Giá trị tài sản thiệt hại là 6.500.000 đồng.
Vụ thứ hai:
Vào sáng ngày 08/8/2023, tại ấp I, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Phạm Tùng S và Lê Hoài A đã có hành vi lén lút trộm cắp của bà Huỳnh Thị H3 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đỏ xám đen biển số 60B4-000.11. Sau đó, S nói với Nguyễn Minh V1 về việc trộm cắp được xe và bán cho V1, V1 đồng ý mua với giá 2.000.000 đồng. Giá trị tài sản thiệt hại là 7.000.000 đồng.
Vụ thứ ba:
Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 23/8/2023, tại khu vực rẫy thuộc ấp S, xã T, huyện Đ, Nguyễn Phạm Tùng S và Phạm Sơn L đã có hành vi trộm cắp của anh S Đầy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đỏ xám đen biển số 83P1-135.24 thì bị bắt quả tang. Giá trị tài sản thiệt hại là 5.667.000 đồng. Ngoài ra, khi tiến hành kiểm tra đã phát hiện Phạm Sơn L còn có hành vi Tàng trữ trái phép 2,7504 gam Methamphetamine.
Như vậy, hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội phạm như sau:
- - Hành vi do bị cáo Phạm Sơn L thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, với tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- - Hành vi do bị cáo Nguyễn Phạm Tùng S, Trần Quang V thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, với tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
- - Hành vi do bị cáo Lê Hoài A thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
- - Hành vi do các bị cáo Nguyễn Minh V1 và Nguyễn Huy B1 thực hiện đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
-7-
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm gian đơn, trong đó:
- - Bị cáo S tham gia thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản với tổng giá trị là 19.167.000đ. Bị cáo là người có vai trò chính trong vụ án về tội trộm cắp tài sản.
- - Bị cáo L vừa phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vừa tham gia cùng bị cáo S thực hiện 01 vụ trộm cắp với giá trị là 5.667.000 đồng. Do bị cáo Phạm Sơn Lâm P1 nhiều tội nên Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội; tổng hợp hình phạt và buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung theo Điều 55 Bộ luật hình sự.
- - Bị cáo V tham gia cùng bị cáo S thực hiện 01 vụ trộm cắp với giá trị là 6.500.000 đồng. Tại bản án số 168/2024/HSST ngày 18/11/2024 của TAND huyện Định Quán đã xử phạt 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 10/07/2024 nhưng do Bản án chưa có hiệu lực nên Hội đồng xét xử không tổng hợp trong bản án này.
- - Bị cáo Hoài A tham gia cùng bị cáo S thực hiện 01 vụ trộm cắp với giá trị là 7.000.000 đồng nên phải chịu trách nhiệm tương xứng.
- - Bị cáo Nguyễn Minh V1 đã tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với giá trị 7.000.000đ. Tại bản án số 59/2024/HS-ST ngày 07/5/2024, TAND huyện Định Quán đã bị xét xử 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023. Bản án đã có hiệu lực nên Tòa án tổng hợp hình phạt và buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung theo Điều 56 Bộ luật hình sự.
- - Bị cáo Nguyễn Huy B1 đã tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với giá trị 6.500.000đ nên phải chịu trách nhiệm tương xứng.
Hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của các bị cáo Phạm Sơn L, Nguyễn Phạm Tùng S, Lê Hoài A, Trần Quang V, Nguyễn Minh V1, Lê Hoài A cũng như hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của bị cáo V1, B1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bà Huỳnh Thị H3, anh Sơn Đ2 và chị Nguyễn Thị Việt A1 và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Phạm Sơn L đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước. Ma túy là hiểm họa của mọi người, mọi nhà vì đây là chất gây nghiện hủy hoại thể chất và tinh thần của người sử dụng nên là loại chất cấm lưu hành. Bị cáo Phạm Sơn L nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng không quyết tâm từ bỏ mà lại tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là cố ý phạm tội.
Do đó, Tòa án cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm là cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất mức độ, hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Phạm Tùng S có một tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị
-8-
cáo Phạm Sơn L, Lê Hoài A, Trần Quang V, Nguyễn Minh V1 và Nguyễn Huy B1 không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Phạm Sơn L, Nguyễn Phạm Tùng S, Lê Hoài A, Trần Quang V, Nguyễn Minh V1 và Nguyễn Huy B1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo A, V1, B1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được xem xét giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tài sản đã thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu nên các bị cáo được xem xét giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về biện pháp tư pháp:
- - Trách nhiệm dân sự: bà Huỳnh Thị H3, anh Sơn Đ2 và chị Nguyễn Thị Việt A1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra giải quyết.
- - Về vật chứng:
- + Đối với xe mô tô hiệu Exciter màu đen, biển số 60H6-090.91 là phương tiện S sử dụng để đi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra chưa xác định được nguồn gốc xe mô tô trên nên tách ra xử lý sau.
- + Đối với xe mô tô biển số 60B3- 880.55 là phương tiện của chị Đinh Thị Thu H4 cho bị cáo S mượn. Chị H4 không biết việc S và L mượn xe đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho chị H4.
- + Đối với biển số xe 60N9-9697, 02 nón bảo hiểm, 02 đôi giày vải: Là công cụ dùng vào việc phạm tội, xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 thu giữ của Hoài A, quá trình điều tra xác định Hoài A không sử dụng vào việc phạm tội nên đã trả lại cho Hoài A.
[6] Về quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Là phù hợp với pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Phạm Sơn L, Nguyễn Phạm Tùng S, Lê Hoài A, Trần Quang V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh V1 và Nguyễn Huy B1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;
Tuyên bố bị cáo Phạm Sơn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-9-
2. Về điều luật áp dụng:
Đối với các bị cáo Phạm Sơn L, Nguyễn Phạm Tùng S, Trần Quang V: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự; Bị cáo L bị áp dụng thêm Điều 55; bị cáo S bị áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đối với các bị cáo Lê Hoài A: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Đối với các bị cáo Nguyễn Minh V1 và Nguyễn Huy B1: Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
3. Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Phạm Sơn L 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2023.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Tùng S 04 (bốn) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2023.
- - Xử phạt bị cáo Trần Quang V 03 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày chấp hành hình phạt (được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 08/8/2023 đến ngày 07/02/2024).
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh V1 01 (một) năm tù. Tổng hợp hình phạt của 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 07/5/2024 của TAND huyện Định Quán; buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.
- - Xử phạt mỗi bị cáo Lê Hoài A, Nguyễn Huy B1 01 (một) năm tù.
Thời hạn tù của bị cáo A tính từ ngày bắt bị cáo ngay tại phiên tòa (29/11/2024) được trừ thời gian bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2023 đến ngày 23/4/2024).
Thời hạn tù của bị cáo B1 tính từ ngày 20/11/2024.
4. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu và tiêu hủy 01 biển số xe 60N9-9697; 01 nón bảo hiểm màu sơn xanh trắng, 01 đôi giày vải màu xanh dương, 01 nón bảo hiểm màu sơn đỏ sọc trắng, 01 đôi giày vải màu đen; 01 con dao tự chế dài 50cm, 01 cây sắt sửa xe; 01 gói niêm phong Vụ số 1897/KL-KTHS ngày 30/8/2023 của Phòng K - Công an tỉnh Đ sau giám định.
5. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Huỳnh Thị H3, anh Sơn Đ2 và chị Nguyễn Thị Việt A1 và chị chị Đinh Thị Thu H4 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
- 10 -
|
Nơi nhận:
Lê Xuân Hòa |
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
- 11 -
Bản án số 180/2021/HSST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản; tàng trữ trái phép chất ma tuý; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 180/2021/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản; Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Pham Tung S + ĐP pham toi tang tru trai phep chat ma tuy
