TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 180/2024/DS-ST
Ngày: 03-10-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hồng Vân.
- Bà Võ Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri – Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 232/2024/TLST-DS ngày 12/6/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2024/QÐST - DS ngày 30 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 136/2024/QÐST - DS ngày 19 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị H, sinh năm 1956 (có mặt).
Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre;
- Bị đơn: Bà Trần Thị C, sinh năm 1961 (có mặt);
Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Văn P, sinh năm 1960 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 13/3/2024, trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Phan Thị H trình bày:
Bà Trần Thị C có tham gia 01 phần hụi trong dây hụi khui ngày 25/9/2022, hụi 10.000.000 đồng, gồm 22 phần, tháng 5 năm 2024 mãn hụi. Bà C hốt hụi, bà giao cho bà C số tiền hụi 164.000.000 đồng. Bà C đóng được 09 tháng còn lại 11 tháng bà C chưa đóng. Bà C cũng đã làm tờ xác nhận còn nợ là 110.000.000 đồng nhưng nay do thấy bà C khó khăn nên bà cho lại bà C số tiền 30.000.000 đồng nên còn 80.000.000 đồng. Bà yêu cầu bà C cùng ông Trương Văn P liên đới trả số tiền 80.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
* Theo bản tự khai ngày 08/7/2024 và trong quá trình tố tụng bị đơn chị Trần Thị C trình bày:
Bà thừa nhận có chơi hụi và còn thiếu lại bà Phan Thị H số tiền 110.000.000 đồng, bà H giảm cho bà 30.000.000 đồng nên bà còn thiếu 80.000.000 đồng. Bà xin bà H cho thời gian dần dần bà sẽ trả lại. Số tiền này để bà tự trả còn ông P thì ông P nói không biết nên ông P không ủy quyền cho bà và cũng không đến Tòa án.
Tại Tòa:
* Nguyên đơn bà H trình bày: Bà Trần Thị C thiếu tiền hụi 110.000.000 đồng, do thấy bà C khó khăn nên bà cho lại 30.000.000 đồng còn lại 80.000.000 đồng. Bà yêu cầu bà Trần Thị C cùng ông Trương Văn P liên đới trả số tiền 80.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Bà xin rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 30.000.000 đồng. Bà cho bà C và ông P trả dần nhưng trong thời gian 01 năm, thời gian quá lâu thì không đồng ý. Trường hợp chậm thực hiện việc trả tiền thì bà yêu cầu tính lãi trong giai đoạn thi hành án.
* Bị đơn bà C trình bày: Bà tham gia chơi hụi nhiều năm với bà Phan Thị H. Thời gian gần đây do khó khăn nên còn thiếu tiền hụi của bà H là 110.000.000 đồng, bà H cho bà 30.000.000 đồng nên còn thiếu lại 80.000.000 đồng. Bà xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng, trả trong 01 năm thì không trả nổi.
* Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát:
Về thủ tục: Trong quá trình tố tụng, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng. Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự thủ tục phiên tòa. nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, riêng ông P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do.
Về nội dung: Nguyên đơn yêu cầu trả số tiền hụi 80.000.000 đồng, bị đơn thừa nhận số tiền thiếu; đây thuộc tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà C chơi hụi nhằm phục vụ kinh tế gia đình nên ông P có nghĩa vụ liên đới. Do đó, áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả cho nguyên đơn số tiền hụi 80.000.000 đồng. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền 30.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông P là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
[1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị H yêu cầu bị đơn bà Trần Thị C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn P liên đới trả số tiền hụi 80.000.000 đồng. Trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ thì yêu cầu tính lãi trong giai đoạn thi hành án. Nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 30.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguyên đơn bà Phan Thị H và bị đơn bà Trần Thị C thống nhất dây hụi, phần hụi bà C tham gia và thống nhất số tiền hụi còn thiếu là 110.000.000 đồng. Bà H cho bà C số tiền 30.000.000 đồng nên xin rút yêu cầu đối với số tiền 30.000.000 đồng. Xét việc bà C tham gia chơi hụi do bà H tổ chức chơi hụi là trên cơ sở tự nguyện nhưng do bà C vi phạm nghĩa vụ nên bà H khởi kiện yêu cầu trả số tiền hụi là có căn cứ phù hợp theo Điều 471 Bộ luật dân sự. Theo biên bản xác minh thì bà C và ông Trương Văn P có hôn nhân hợp pháp, bà C chơi hụi nhằm cải thiện cuộc sống gia đình nên ông Trương Văn P phải có nghĩa vụ liên đới theo Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình. Bà H đồng ý cho trả dần trong thời hạn 01 năm, bà C xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng thì bà H không đồng ý và việc xin trả dần của bà C cũng không phù hợp quy định pháp luật nên không được chấp nhận. Do đó, căn cứ Điều 471 Bộ luật dân sự; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Phan Thị H. Buộc bị đơn bà Trần Thị C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn P liên đới trả cho bà H số tiền hụi là 80.000.000 đồng. Trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu tiền lãi trong giai đoạn thi hành án.
[2] Bà Phan Thị H xin rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 30.000.000 đồng, việc bà H xin rút yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị H về việc yêu cầu bị đơn bà Trần Thị C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn P liên đới trả số tiền hụi 30.000.000 đồng.
[3] Xét quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí DS – ST: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn bà Trần Thị C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn P phải nộp (80.000.000 đồng x 5%) = 4.000.000 đồng (trong đó bà C được miễn án phí, ông P phải nộp án phí 2.000.000 đồng) theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 227, 228, 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471, 468 Bộ luật dân sự; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị H. Buộc bị đơn bà Trần Thị C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn P liên đới trả cho nguyên đơn Phan Thị H số tiền hụi 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng).
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị H yêu cầu bị đơn bà Trần Thị C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn P liên đới trả số tiền hụi 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí DS-ST: Bị đơn bà Trần Thị C được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn P phải chịu 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) và có nghĩa vụ nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri.
Nguyên đơn bà Phan Thị H được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 180/2024/DS-ST ngày 03/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 180/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hụi
