|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 180/HNGĐ-ST
Ngày: 24/9/2024
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG,
TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Minh
ải Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đào Thanh Tùng
- Bà Võ Thị Bời
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Lựu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 387/2024/TLST - HNGĐ ngày 09/5/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2024/QĐXX-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 122/2024/QĐHPT ngày 17/9/2024, giữa các đương sự:
- + Nguyên đơn: Bà Trần Thị Đ – Sinh năm 1986.
- Nơi ĐKNKTT: 40/14 T, P, N, Khánh Hòa.
- Địa chỉ hiện nay: Nhà số A, đường số H Đ, V, N, Khánh Hòa.
- Có đơn xin xét xử vắng mặt
- + Bị đơn: Ông Trần Thanh T – Sinh năm 1984.
- Địa chỉ: 4 T, P, N, Khánh Hòa.
- Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ, lời khai trong quá trình tố tụng bà Trần Thị Đ trình bày:
Bà và ông Trần Thanh T đã tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2005 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Trong quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc nhưng sau đó có nhiều mâu thuẫn. Hiện nay, tình cảm vợ chồng đã không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Trần Thanh T.
Về con chung: Chúng tôi có 04 (bốn) con chung là: Trần Thị Thanh T1, sinh ngày 22/11/2006; Trần Thị Thanh N, sinh ngày 20/4/2008; Trần Thị Thanh H, sinh ngày 14/9/2011 và Trần Anh D, sinh ngày 30/4/2018.
Hiện nay tôi đi làm ăn xa, phải thuê nhà cuộc sống chưa ổn định nên chưa có điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Mặt khác, các cháu đang đi học và có cuộc sống ổn định với ông T. Vì vây, sau khi ly hôn, tôi đồng ý giao cả 04 con chung cho ông Trần Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng và cấp dưỡng mỗi tháng 3.000.000 đồng, bắt đầu từ tháng 10/2024 đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nợ chung.
Về án phí: Tôi tự nguyện nộp toàn bộ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Bị đơn, ông Trần Thanh T trình bày: Ông đồng ý với phần trình bày của bà Trần Thị Đ về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản chung. Cuộc sống hôn nhân có nhiều mâu thuẫn nhưng vì các con còn nhỏ nên ông không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, nếu bà Đ cương quyết xin ly hôn thì ông cũng đồng ý ly hôn nhưng xin được nuôi cả 04 (bốn) con chung vì hiện nay các cháu đang sống cùng ông và ông đang trực tiếp chăm sóc các cháu. Ông không yêu cầu bà Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chúng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chúng tôi không có nợ chung.
Về án phí: Tôi đồng ý với bà Đ về phần án phí.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Đ và ông Trần Thanh T không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Trần Thị Đ được ly hôn với ông Trần Thanh T. Về con chung: bà Đ và ông T có 04 con chung là Trần Thị Thanh T1, sinh ngày 22/11/2006; Trần Thị Thanh N, sinh ngày 20/4/2008; Trần Thị Thanh H, sinh ngày 14/9/2011 và Trần Anh D, sinh ngày 30/4/2018. Cả 4 cháu hiện nay đang sinh sống ổn định cùng với ông Trần Thanh T và điều kiện kinh tế ông T đủ khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu nên giao 04 con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và trông nom. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Đ về việc cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng, bắt đầu từ tháng 10/2024 đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi. Tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Bà Trần Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Trần Thị Đ khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với ông Trần Thanh T, ông T có nơi cư trú tại số D T, P, N, Khánh Hòa, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Trần Thị Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Trần Thanh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
[2] Bà Trần Thị Đ và ông Trần Thanh T tự nguyện kết hôn với nhau năm 2005 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (Giấy CNKH số 108, quyển số 01/2005, ngày 04/10/2005) nên đây là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà Trần Thị Đ có yêu cầu ly hôn nên Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa thụ lý là đúng quy định tại khoản 1, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại các biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải, cả bà Trần Thị Đ và ông Trần Thanh T đều thừa nhận giữa vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Ông T không muốn ly hôn vì các con còn nhỏ, cần sự chăm sóc của cả cha và mẹ. Tòa án đã tạo điều kiện hòa giải nhiều lần, nhưng bà Đ vẫn cương quyết xin ly hôn, vì cho rằng hiện tại tình cảm vợ chồng đã không còn và cuộc sống chung không có hạnh phúc. Ông T trình bày mặc dù muốn đoàn tụ gia đình nhưng nếu bà Đ cương quyết xin ly hôn thì ông cũng đồng ý ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Đ và ông T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu cứ tiếp tục duy trì cuộc sống gia đình thì cũng không đem lại hạnh phúc cho đôi bên. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà Đ là chính đáng, có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về con chung: Bà Đ và ông T có 04 con chung là Trần Thị Thanh T1, sinh ngày 22/11/2006; Trần Thị Thanh N, sinh ngày 20/4/2008; Trần Thị Thanh H, sinh ngày 14/9/2011 và Trần Anh D, sinh ngày 30/4/2018. Ông T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả 4 con chung, bà Đ cũng đồng ý vì bà hiện nay đang đi làm thuê ở xa, không có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho các cháu. Và hiện nay cả 4 cháu đang sinh sống và học tập ổn định cùng với ông Trần Thanh T và điều kiện kinh tế ông T đủ khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu nên giao 04 con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và trông nom là phù hợp với quyền và lợi ích của các cháu, cũng như phù hợp quy định của pháp luật.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T không yêu cầu bà Đ cấp dưỡng nuôi con chung, bà Đ đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng, từ khi ly hôn cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự nên Tòa án ghi nhận.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bà Trần Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 228, 147, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Trần Thị Đ được ly hôn với ông Trần Thanh T.
- [2] Về con chung: Giao các con chung Trần Thị Thanh T1, sinh ngày 22/11/2006; Trần Thị Thanh N, sinh ngày 20/4/2008; Trần Thị Thanh H, sinh ngày 14/9/2011 và Trần Anh D, sinh ngày 30/4/2018 cho ông Trần Thanh T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.
- [3]Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đ và ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [4] Về án phí: Bà Trần Thị Đ phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí DSST nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002362 ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Như vậy, bà Đ đã nộp đủ án phí.
- [5] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Bà Trần Thị Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng, từ tháng 10/2024 đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi.
Bà Trần Thị Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom các con chung không ai được cản trở, đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi dưỡng.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết bà Trần Thị Đ và ông Trần Thanh T có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con.
Quy định: Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: THẨM
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hồng Minh |
Bản án số 180/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn
- Số bản án: 180/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
