|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 180/DS-ST Ngày: 24/9/2024 “V/v Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tám
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Phi Hổ
Bà Thiều Thị Phi Loan
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung-
Thư ký Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên
tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20 và 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 848/2020/TLST- DS ngày 23 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 229/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 1369/QÐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Minh H, sinh năm 1968
Địa chỉ thường trú: H P, phường G, quận P, thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ liên lạc: 81 HV, tổ C, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Vũ Giang L, sinh năm 1958.
Địa chỉ thường trú: 92/67, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ tạm trú: F khu phố T, L, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Vũ Thanh H1, sinh năm 1984
- Anh Vũ Minh Q, sinh năm 1990;
Cùng địa chỉ: 9, KP.7, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
Đại diện theo ủy quyền của anh H1, anh Q: Ông Nguyễn Huy V, sinh năm 1986; Địa chỉ: A đường A, M, phường P, TP .,TP. Hồ Chí Minh.
( Ông H có mặt, ông L vắng mặt không có lý do, ông V có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Phạm Minh H trình bày:
Vào ngày 25/02/2019, thông qua người quen biết, ông và ông Vũ Giang L có ký hợp đồng giao nhận tiền cọc với nội dung thỏa thuận: Ông L đồng ý chuyển nhượng cho ông nhà và đất thuộc thửa đất số 60 tờ bản đồ số 21, diện tích 431,1 m2 tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 185675 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp với giá thỏa thuận là 5.000.000.000 đồng (Năm tỉ đồng); ông H đặt cọc trước 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng). Ông L có nói với ông là do bị mất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đang chờ cấp lại nên hẹn với ông trong vòng 40 ngày (kể từ ngày đặt cọc) hai bên sẽ đến Phòng công chứng tiến hành hoàn tất thủ tục mua bán.
Ngày 25/02/2019, ông H đã giao cho ông L số tiền 1.000.000.000đ (một tỷ đồng), thời điểm giao tiền có ông Mai Tấn N chứng kiến. Sau khi nhận tiền, ông L đã ký và lăn tay vào Hợp đồng giao nhận tiền cọc.
Đến cuối tháng 10 năm 2019, ông L đã được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất trên. Sau đó ông đã nhiều lần hối thúc ông L ra phòng công chứng để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng ông L khất hẹn với nhiều lý do khác nhau. Ông cũng yêu cầu ông L trả lại số tiền ông đã đặt cọc nhưng ông L cũng không trả. Qua tìm hiểu, ông được biết ông L đã khởi kiện tranh chấp thừa kế tài sản trên tại Tòa án Nhân dân thành phố Biên Hòa.
Tại Đơn khởi kiện, ông yêu cầu Tòa án buộc ông Vũ Giang L trả cho ông số tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), và số tiền phạt cọc theo thỏa thuận trong hợp đồng giao nhận, tiền cọc ngày 25/02/2019 là 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng). Tổng cộng buộc ông L phải trả cho ông 4.000.000.000 đ (bốn tỷ đồng)
Tại Đơn khởi kiện bổ sung ngày 19/7/2024, ông H yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng giao, nhận tiền cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất ký ngày 25/02/2019 giữa ông Phạm Minh H và ông Vũ Giang L. Các yêu cầu khởi kiện khác vẫn giữ nguyên không thay đổi.
Tại phiên tòa, ông H rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu Tòa án buộc ông Vũ Giang L phải trả cho ông số tiền phạt cọc 3.000.000.000đ (ba tỷ đồng).
*Tại Bản tự khai ngày 18/3/2021, bị đơn ông Vũ Giang L trình bày:
Cách đây 02 năm, ông có đi ở bên vợ mới của ông thì bị các con của ông khóa cổng không cho vào nhà và chiếm đoạt toàn bộ giấy tờ nhà đất. Do không hiểu biết pháp luật nên ông có nhờ ông H lo giấy tờ thủ tục để ông kiện con của ông nhằm lấy lại tài sản. Do đó, ông đã giao cho ông H các giấy tờ, thông tin và ký lăn tay khi ông H yêu cầu. Sau đó, ông H lừa đảo nhiều người và bỏ trốn nên mang theo các giấy tờ ông đã giao cho ông H. Nay ông H khởi kiện buộc ông trả tiền cho ông H thì ông không đồng ý vì ông không nhận tiền cọc của ông H.
Tại Bản tự khai ngày 05/7/2022, ông L trình bày: Vào ngày 25/02/2019, ông và ông Phạm Minh H có ký Hợp đồng giao nhận tiền cọc nhằm tạo niềm tin trong giao dịch dân sự khác mà ông không rõ ý đồ của ông H. Trên thực tế, ông H không giao cho ông số tiền 1.000.000.000đ (một tỷ đồng). Ngày 26/02/2019, ông đã có văn bản thông báo chấm dứt hợp đồng giao nhận tiền cọc ngày 25/02/2019 gửi cho ông H, sự việc có ông Mai Văn N1 chứng kiến. Nay ông không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì: Giao dịch giữa ông và ông H không có thoả thuận cụ thể về thông tin thửa đất, tờ bản đồ địa chính, vị trí đất, giấy tờ pháp lý liên quan thửa đất; mục đích của ký thỏa thuận này của ông H là cho mục đích, giao dịch dân sự khác; ông H không giao cho ông 1.000.000.000 đồng bằng bất kỳ hình thức nào liên quan đến các nội dung thỏa thuận giao nhận tiền cọc cho ông.
Tại bản tự khai ngày 16/10/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Minh Q và anh Vũ Thanh H1 do ông Nguyễn Huy V đại diện trình bày:
Đối tượng tranh chấp trong hợp đồng đặt cọc giữa ông Vũ Giang L và ông Phạm Minh H là căn nhà và đất tại thửa đất số 60 tờ bản đồ 21 có diện tích 431,1m2 tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Đây là tài sản có nguồn gốc của cha mẹ ông H1, ông Q là ông Vũ Giang L và bà Phạm Thị Tuyết . Tuy nhiên bà T đã mất vào ngày 09/12/2014, do đó việc ông H đưa ra bản Hợp đồng giao nhận tiền cọc ngày 25/02/2019 mà có chữ ký của ông L trên thực tế là một bản hợp đồng giả cách và có rất nhiều điểm không hợp lý, cụ thể:
- Thời điểm đó ông L bỏ nhà đi và không cầm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của căn nhà (do ông Q và ông Hoàng G) nên việc ông H và ông L ký hợp đồng giao nhận tiền cọc mà không vào xem trực tiếp tài sản cũng như xem Giấy chứng nhận gốc là điều không hợp lý
- Trong Hợp đồng cũng không ghi rõ nội dung xác nhận của ông L có nhận tiền hay không? Khi ông L nhận tiền thì không có người làm chứng. Việc giao dịch số tiền lớn (1 tỷ đồng) mà không có bất cứ biên bản giao nhận tiền nào chứng tỏ việc giao dịch này không hề tồn tại
- Thực tế thời điểm đó ông L rất muốn làm lại Giấy chứng nhận nên đã gian dối làm đơn cớ mất. Ông L không biết thủ tục làm Giấy chứng nhận mới nên đã nhờ ông H làm thủ tục, do ông L không có tiền thực hiện dịch vụ nên đã ký Hợp đồng mục đích làm tin.
- Ngoài ra, việc ông L tự ý ký vào Hợp đồng không hề thông qua sự đồng
ý của các đồng thừa kế là anh Q, anh H1 thì đồng nghĩa với việc hợp đồng này vô hiệu. Đồng thời trên thực tế chưa hề có sự giao nhận tiền nên các bên cũng không có bất kỳ nghĩa vụ, quyền lợi nào liên quan.
Do đó, ông V đề nghị Tòa án xem xét các tình tiết khách quan và sự thật của vụ án để bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời xác nhận anh H1, anh Q không có bất cứ nghĩa vụ nào liên quan đến việc ký kết hợp đồng giữa ông Vũ Giang L với ông Phạm Minh H.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 73 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên hủy hợp đồng giao nhận tiền cọc ngày 25/02/2019 ký giữa ông Phạm Minh H và ông Vũ Giang L; buộc ông Vũ Giang L phải trả cho ông Phạm Minh H số tiền đặt cọc 1.000.000.000 đồng. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn ông Vũ Giang L phải trả cho ông số tiền phạt cọc 3.000.000.000 đồng. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về thẩm quyền giải quyết, quan hệ pháp luật, thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật: Ông Phạm Minh H yêu cầu hủy Hợp đồng giao nhận tiền cọc, buộc bị đơn trả tiền cọc và phạt cọc nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo quy định tại Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015, khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Vũ Giang L có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thủ tục tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Huy V có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Vũ Giang L, đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1]. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc tuyên hủy hợp đồng giao nhận tiền cọc giữa ông với bị đơn ông Vũ Giang L, buộc ông L phải trả cho ông số tiền cọc là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng):
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, nguyên đơn cung cấp cho Tòa án Bản chính hợp đồng giao nhận tiền cọc ngày 25/02/2019 có nội dung thỏa thuận: ông L đồng ý chuyển nhượng cho ông H diện tích đất 431,1m², địa chỉ khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; tài sản gắn liền với đất là nhà và đất ở; với giá 5.000.000.000₫ (năm tỷ đồng). Ông L nhận cọc số tiền 1.0000.000.000₫ (một tỷ đồng); phương thức thanh toán số tiền còn lại: đặt cọc 1 tỷ, khi nào xong thủ tục giấy tờ sổ đỏ chồng hết số tiền còn lại; thời hạn ký hợp đồng chuyển nhượng là 40 ngày kể từ ngày đặt cọc; Hai bên cam kết: Bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất xin cam đoan thửa đất có nguồn gốc hợp pháp, hiện tại không có tranh chấp, không thế chấp, không bảo lãnh, không góp vốn (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận); nếu bên chuyển nhượng không thực hiện đúng theo hợp đồng thì phải bồi thường gấp 3 lần tiền nhận cọc; nếu bên nhận chuyển nhượng không thực hiện đúng theo hợp đồng thì phải chịu mất tiền cọc.
Hợp đồng giao nhận tiền cọc có chữ ký, ghi rõ họ tên và lăn tay của ông Vũ Giang L tại mục “bên chuyển nhượng QSD đất (nhận tiền cọc)” và chữ ký, ghi rõ họ tên của ông Phạm Minh H tại mục “bên nhận chuyển nhượng QSD đất (Giao tiền cọc)”; ông Mai Tấn N ký và ghi rõ họ tên tại mục người chứng 1.
Hồ sơ thể hiện: Diện tích 431,1m² thuộc thửa đất số 60 tờ bản đồ số 21 tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nói trên tại thời điểm các đương sự giao dịch đặt cọc (25/02/2019) đang được cấp cho ông Vũ Giang L và bà Phạm Thị T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 855995 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 26/12/2007. Năm 2022, ông L khởi kiện đối với hai người con là anh Vũ Thanh H1 và anh Vũ Minh Q về việc “chia tài sản chung và chia di sản thừa kế” đối với nhà và đất nói trên và vụ án đã được giải quyết bằng bản án phúc thẩm số 153/2022/DS-PT ngày 14/10/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Do đó, Hợp đồng giao nhận tiền cọc ngày 25/02/2019 không thể thực hiện được nên yêu cầu của ông H về việc tuyên hủy Hợp đồng giao nhận tiền cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất ngày 25/02/2019 giữa ông Phạm Minh H và ông Vũ Giang L là có cơ sở chấp nhận theo Điều 425 Bộ luật Dân sự.
Xét yêu cầu của ông H về việc buộc ông L trả tiền cọc: Nguyên đơn cho rằng, vào ngày 25/02/2019, ông H đã giao cho ông L số tiền 1.000.000.000₫ (một tỷ đồng) bằng tiền mặt để đặt cọc chuyển nhượng thửa đất số 60 tờ bản đồ số 21 tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Khi nhận tiền, ông L có ký, ghi rõ họ tên và lăn tay vào Hợp đồng giao nhận tiền cọc. Tại bản tự khai ngày 05/7/2022, ông L thừa nhận, vào ngày 25/02/2019, ông và ông Phạm Minh H có ký Hợp đồng giao nhận tiền cọc nhằm tạo niềm tin trong giao dịch dân sự khác mà ông không rõ ý đồ của ông H nhưng trên thực tế, ông H không giao cho ông số tiền 1.000.000.000đ (một tỷ đồng). Ông L cung cấp bằng chứng là tờ “Văn
bản thông báo chấm dứt hợp đồng giao nhận tiền cọc” ngày 26/02/2019 có chữ ký và lăn tay của ông Vũ Giang L. Tuy nhiên, lời khai và chứng cứ của ông L không được ông H thừa nhận. Tòa án đã trực tiếp đến nhà ông L để làm việc và nhiều lần yêu cầu ông L cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh việc ông không nhận số tiền 1.000.000.000 đồng từ ông H và việc ông ký hợp đồng để tạo niềm tin trong giao dịch dân sự khác nhưng ông L không giao nộp, không đến Tòa án để tham gia đối chất, không cung cấp thông tin của người làm chứng ông Mai Tấn N cho Tòa án theo yêu cầu. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh H1, anh Q cho rằng “Trong Hợp đồng cũng không ghi rõ nội dung xác nhận của ông L có nhận tiền hay không? Khi ông L nhận tiền thì không có người làm chứng. Việc giao dịch số tiền lớn (1 tỷ đồng) mà không có bất cứ biên bản giao nhận tiền nào chứng tỏ việc giao dịch này không hề tồn tại” là không có cơ sở vì thời điểm ký hợp đồng, ông L là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, biết chữ và tự nguyện ký “Hợp đồng giao nhận tiền cọc”. Ngay trong tiêu đề của hợp đồng đã thể hiện nội dung giao nhận tiền giữa hai bên nên không cần thiết phải lập thêm biên bản giao nhận tiền nữa.
Do đó, có cơ sở xác định vào ngày 25/02/2019, ông L đã nhận số tiền 1.000.000.000đ (một tỷ đồng) đặt cọc mua đất của ông H nên yêu cầu của ông H về việc buộc ông L phải trả cho ông H số tiền đặt cọc là có cơ sở chấp nhận.
Tại phiên tòa, ông H rút một phần yêu cầu khởi kiện nên Tòa án đình chỉ đối với yêu cầu của ông H về việc buộc ông L phải trả cho ông số tiền phạt cọc 3.000.000.000₫ (ba tỷ đồng).
[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Vũ Giang L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như sau:
Bị đơn phải chịu án phí dân sự về yêu cầu hủy hợp đồng giao nhận tiền cọc là 300.000 đồng và chịu án phí dân sự về yêu cầu trả tiền đặt cọc là: 36.000.000 đồng + (3% x 200.000.000 )= 42.000.000 đồng.
Hoàn trả cho ông H số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; khoản 1 Điều 147; khoản 3 Điều 228; Điều 244; Điều 266; Điều 271 và khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 328, 408, 425, 427 Bộ luật Dân sự;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Minh H về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” đối với bị đơn ông Vũ Giang L.
Hủy Hợp đồng giao nhận tiền cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất ngày 25/02/2019 giữa ông Phạm Minh H với ông Vũ Giang L.
Buộc ông Vũ Giang L trả cho ông Phạm Minh H số tiền 1000.000.000₫ (Một tỷ đồng).
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Minh H về việc buộc ông Vũ Giang L phải trả cho ông số tiền phạt cọc 3.000.000.000đ (ba tỷ đồng)
- Về án phí:
Ông Vũ Giang L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và 42.000.000₫ (bốn mươi hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho ông Phạm Minh H số tiền tạm ứng án phí 56.300.000đ (năm mươi sáu triệu ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu số 0007465, 0007464 ngày 20/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị đối với bản án: Ông Phạm Minh H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Ông Vũ Giang L, anh Vũ Thanh H1, anh Vũ Minh Q vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tám |
Bản án số 180/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 180/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Phạm Minh H và ông Vũ Giang L tranh chấp hợp đồng đặt cọc
