|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 180/2024/HS-ST Ngày 30-8-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trịnh Văn Nhất.
- Ông Nguyễn Văn Môn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 166/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Chu Văn H, sinh năm 1996.
Quê quán: Xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi thường trú: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không.
Con ông Chu Văn D, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ hai; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1998 và có 3 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2024.
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 11 ngày 03/3/2023 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 19/8/2023.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
(Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại:
- - Anh Giáp Văn C, sinh năm 1972 (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Thôn T, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- - Anh Giáp Văn G, sinh năm 1994 (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Thôn T, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1991 (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Số B, phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968 (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
- - Anh Giáp Hồng C1, sinh năm 1990 (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Thôn T, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chu Văn H, sinh năm 1996, trú tại thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang có sử dụng ma túy. Từ ngày 20/5/2024 đến ngày 07/6/2024, H đã thực hiện 08 vụ trộm cắp bình ắc quy xe ô tô của anh Giáp Văn G, Giáp Văn C tại các bãi xe trên địa bàn xã D, thành phố B sau đó đem đi bán lấy tiền mua ma tuý sử dụng, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất:
Vào buổi chiều tối một ngày cuối tháng 5/2024, H điều khiển xe mô tô biển số 98N4-5141 mang theo một chiếc cờ lê, 01 bao tải dứa đi từ nhà đến xã D, thành phố B mục đích trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu vực bãi xe ô tô đối diện với Showroom ô tô HUYNDAI trên đường N thuộc thôn N, xã D, thành phố B thì thấy có nhiều ô tô cũ. Những xe ô tô này là của anh Giáp Văn G, sinh năm 1994, trú tại thôn T, xã D, thành phố B kinh doanh mua bán xe ô tô cũ để tại đó. H đỗ xe ở lề đường rồi đi bộ vào trong đi đến gần một xe ô tô đầu kéo màu xanh, nhãn hiệu HOWO, không có biển số. H cầm cờ lê tháo ốc bắt vít đai cố định bình ắc quy trộm cắp 02 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V-150AH rồi cho vào bao tải dứa đặt lên yên xe mô tô. H điều khiển xe đi đến cửa hàng mua bán ắc quy ô tô của anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1991 ở số B, phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang bán được 1.600.000 đồng. H khai dùng số tiền này mua ma túy sử dụng hết.
Kết luận định giá tài sản số 128/KL-HĐ ngày 11/6/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V-150AH tại thời điểm cuối tháng 5 đầu tháng 6/2024 là 1.200.000 đồng. Tổng trị giá 02 bình ắc quy là 2.400.000 đồng.
Vụ thứ hai:
Vào buổi chiều tối cách khoảng 2-3 ngày sau, H điều khiển xe mô tô biển số 98N4-5141 đi đến bãi xe ô tô của anh Giáp Văn G để trộm cắp ắc quy xe ô tô. Bằng phương thức tương tự như lần trước, H trộm cắp 02 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V-120AH của xe ô tô tải màu sơn trắng không gắn biển số. Hào bán cho Nguyễn Văn T 02 bình ắc quy được 1.500.000 đồng. H khai sử dụng để mua ma túy cho bản thân.
Kết luận định giá tài sản số 128/KL-HĐ ngày 11/6/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V-120AH tại thời điểm cuối tháng 5 đầu tháng 6/2024 trị giá là 1.000.000 đồng. Tổng trị giá 02 bình ắc quy là 2.000.000 đồng.
Vụ thứ ba:
Vào buổi chiều tối một ngày cuối tháng 05/2024, H điều khiển xe mô tô biển số 98N4-5141 đi từ nhà đến khu vực bãi xe ô tô trên đường N thuộc thôn N, xã D, thành phố B thì thấy có nhiều ô tô trong bãi xe. Những xe ô tô này là của anh Giáp Văn C, sinh năm 1972, trú tại thôn T, xã D, thành phố B kinh doanh mua bán xe ô tô cũ để tại đó. H dừng xe ở lề đường rồi đi bộ vào bên trong bãi xe. H cầm cờ lê tháo ốc bắt vít đai cố định bình ắc quy của xe ô tô đầu kéo biển số 29H-821.26 lấy 2 bình ắc quy, nhãn hiệu GS loại 12V-150AH cho vào bao tải dứa rồi điều khiển xe đi về. H khai trên đường đi về đã bán 2 bình ắc quy cho người đàn ông không quen biết được 1.500.000 đồng rồi sử dụng tiền mua ma túy.
Kết luận định giá số 128/KL-HĐ ngày 11/6/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V-150AH tại thời điểm cuối tháng 5/2024 trị giá là 1.200.000 đồng. Tổng trị giá 2 bình ắc quy là 2.400.000 đồng.
Vụ thứ tư:
Khoảng 1-2 ngày sau vào đầu buổi chiều, H điều khiển xe mô tô biển số 98N4-5141 đi từ nhà đến bãi xe ô tô của anh Giáp Văn C. Cùng với phương thức như những lần trước, H trộm cắp 2 bình ắc quy nhãn hiệu GS, loại 12V-100AH của xe ô tô tải biển số 38N-5330. H khai trên đường đi về đã bán 2 bình ắc quy cho người đàn ông không quen biết được 1.000.000 đồng
Sau đó H điều khiển xe đi quay lại bãi xe ô tô của anh C tiếp tục trộm cắp 2 bình ắc quy nhãn hiệu GS, loại 12V-120AH của xe ô tô tải biển số 34C-093.25. H điều khiển xe chở 2 bình ắc quy đi về thị trấn Đ sau đó bán cho người không quen biết được 1.000.000 đồng. H đã sử dụng để mua ma túy sử dụng cho bản thân.
Kết luận định giá tài sản số 128/KL-HĐ ngày 11/6/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V-100AH có trị giá là 850.000 đồng; 01 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS, loại 12V-120AH có trị giá là 1.000.000 đồng tại thời điểm cuối tháng 5 đầu tháng 6/2024. Tổng trị giá 4 bình ắc quy là 3.700.000 đồng.
Vụ thứ năm:
Khoảng 1-2 ngày sau vào đầu buổi chiều, H điều khiển xe mô tô biển số 98N4-5141 đi đến bãi xe của anh Giáp Văn C trộm cắp 02 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V-100AH trên xe ô tô tải biển số 97C-007.93 và 01 bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V-100AH trên xe ô tô tải biển số 98C-326.73. Trên đường đi về, H đã bán 03 chiếc bình ắc quy cho một người đàn ông không quen biết được 1.000.000 đồng sử dụng mua ma túy.
Kết luận định giá tài sản số 128/KL-HĐ ngày 11/6/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V-100AH tại thời điểm cuối tháng 5 đầu tháng 6/2024 trị giá là 850.000 đồng. Tổng trị giá 3 bình ắc quy là 2.550.000 đồng.
Vụ thứ sáu:
Vào buổi chiều khoảng 2-3 ngày sau, H điều khiển xe mô tô biển số 98N4-5141 đi từ nhà đến bãi xe của anh Giáp Văn C trộm cắp 02 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS, loại 12V-150AH của xe ô tô tải biển số 98C-073.63. Trên đường đi về, H đã bán hai chiếc bình ắc quy trên cho một người đàn ông không quen biết được 1.500.000 đồng sử dụng mua ma túy hết.
Kết luận định giá tài sản số 128/KL-HĐ ngày 11/6/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V-150AH tại thời điểm cuối tháng 5 đầu tháng 6/2024 là 1.200.000 đồng. Tổng trị giá 2 bình ắc quy là 2.400.000 đồng.
Vụ thứ bẩy:
Vào buổi chiều khoảng 1-2 ngày sau, H điều khiển xe mô tô biển số 98N4-5141 đi từ nhà đến bãi xe của anh Giáp Văn C trộm cắp 02 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS, loại 12V-100AH trên xe ô tô tải biển số 12C-010.45 và 02 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS, loại 12V-100AH trên xe ô tô tải biển số 88C-043.98. Sau đó, H chở đến bán cho Nguyễn Văn T được 1.600.000 đồng đã mua ma túy sử dụng cho bản thân.
Kết luận định giá số 128/KL-HĐ ngày 11/6/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V-100AH tại thời điểm cuối tháng 5 đầu tháng 6/2024 là 850.000 đồng. Tổng trị giá 4 bình ắc quy là 3.400.000 đồng.
Vụ thứ tám:
Buổi chiều ngày 07/6/2024, H điều khiển xe mô tô biển số 98N4-5141 đi đến bãi xe của anh Giáp Văn C để trộm cắp. Hào mang theo 03 chiếc cờ lê, 01 chiếc mỏ lết, 01 tô vít, 01 chiếc kìm, 01 con dao và 02 bao tải dứa cất trong cốp xe. Khoảng 17 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô đi vào trong bãi xe ô tô. H lấy chiếc mỏ lết tháo 02 bình ắc quy nhãn hiệu GS, loại 12V-100AH trên xe ô tô tải biển số 11C-031.90 rồi cho vào bao tải dứa cất giấu ở khu vực cuối bãi để xe. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày khi H dùng mỏ lết đang tháo chiếc bình ắc quy, nhãn hiệu GS, loại 12V-90AH xe ô tô tải biển số 11C-009.21 thì bị Công an xã D bắt quả tang, thu giữ số vật chứng gồm:
- - 02 bình ắc quy, nhãn hiệu GS, loại 12V-100AH và 01 chiếc bình ắc quy, nhãn hiệu GS, loại 12V-90AH
- - 01 chiếc xe mô tô biển số 98N4-5141;
- - 01 chiếc mỏ lết; 03 chiếc cờ lê; 01 chiếc tô vít; 01 con dao;
- - 01 chiếc điện thoại Samsung A50 màu đen;
- - Số tiền 650.000 đồng.
Công an xã D đã bàn giao Chu Văn H và vật chứng cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố B giải quyết.
Kết luận định giá tài sản số 128/KL-HĐ ngày 11/6/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V-90AH có trị giá ngày 07/6/2024 là 800.000 đồng; 01 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V100AH có trị giá ngày 07/6/2024 là 850.000 đồng. Tổng trị giá 03 chiếc bình ắc quy là 2.500.000 đồng.
Cơ quan điều tra khám nghiệm hiện trường tại bãi đỗ xe của anh Giáp Văn C xác định: Tại vị trí hộp kim loại để ắc quy trên xe ô tô tải biển số 11C-031.90 bị bật rời, cong vênh khỏi vị trí cố định, mất ốc vít; trên xe ô tô hiện không có bình ắc quy; xe ô tô tải biển số 11C-009.21 không có ắc quy.
Cơ quan điều tra cho H tự xác định hiện trường tại bãi đỗ xe của anh Giáp Văn C. Kết quả H xác định đã trộm cắp bình ắc quy của xe đầu kéo biển số 29H-821.26; xe ô tô biển số 98C-326.73, xe ô tô biển số 30N-5330, xe ô tô tải biển số 34C-093.25, 88C-043.98 và 97C-007.93, xe ô tô biển số 12C-010.45. Tại bãi xe của anh Giáp Văn G thì H xác định đã trộm cắp 04 bình ắc quy của 2 xe ô tô tải đều không có biển số.
Cơ quan điều tra đã thu giữ 06 file video trích xuất từ hệ thống camera an ninh của Công an thành phố B ghi lại hình ảnh liên quan trộm cắp tài sản và trưng cầu giám định. Kết luận giám định số 1610/KL-KTHS ngày 22/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video lưu trữ trong 01 (một) đĩa DVD-R gửi giám định.
- Trích xuất được 18 (mười tám) hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong các file video gửi giám định.
Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Chu Văn H thu giữ 01 căn cước công dân số [...] mang tên Chu Văn H và 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu đen trắng.
Ngày 17/6/2024, Cơ quan điều tra đã cho Chu Văn H thực nghiệm điều tra. Kết quả H thực hiện thuần thục các động tác dùng cà lê tháo ốc vít cố định bình ắc quy trên xe ô tô, bê bình ắc quy cho vào bao tải dứa rồi để lên yên xe máy, điều khiển xe đi khỏi hiện trường như bị can đã khai.
Cơ quan điều tra cho Chu Văn H nhận dạng ảnh anh Nguyễn Văn T1. Kết quả bị can H nhận đúng ảnh và xác định có bán cho anh T1 tổng số 08 bình ắc quy xe ô tô.
Quá trình điều tra, anh Nguyễn Văn T giao nộp cho Cơ quan điều tra 04 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS, loại 12V-100AH, đã qua sử dụng. Đối với 04 chiếc bình ắc quy đã mua trước đó thì anh T đã bán cho người không quen biết nên không thu hồi được.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra trả lại anh Giáp Văn C 01 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS, loại 12V-90AH và 06 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS, loại 12V-100AH do anh T1 giao nộp và thu khi bắt quả tang.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Giáp Văn G yêu cầu bồi thường 4.400.000 đồng. Anh Giáp Văn C yêu cầu bồi thường số tiền 12.750.000 đồng (tương đương với giá trị số bình ắc quy ô tô không thu hồi được), anh Nguyễn Văn T không yêu cầu H bồi thường dân sự.
*Tại bản cáo trạng số 172/CT-VKS ngày 14 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Chu Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
*Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.
*Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Chu Văn H từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian tù tính từ ngày 07/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Giáp Văn G số tiền 4.400.000 đồng, bồi thường cho anh Giáp Văn C số tiền 12.750.000 đồng.
- - Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mỏ lết, 03 chiếc cờ lê, 01 chiếc tô vít, 01 con dao và 01 chiếc áo sơ mi dài tay đen trắng.
- + Trả lại bà Nguyễn Thị M 01 chiếc xe mô tô biển số 98N4-5141.
- + Trả lại bị cáo 01 điện thoại Samsung A50 màu đen, 01 căn cước công dân số [...] mang tên Chu Văn H và số tiền 650.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì thư nhưng cần tạm giữ 01 điện thoại Samsung A50 màu đen và số tiền 650.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì thư để đảm bảo thi hành án.
- - Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
* Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất để có cơ hội cải sửa bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.
[3] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 20/5/2024 đến ngày 07/6/2024, Chu Văn H đã thực hiện 08 vụ trộm cắp tổng số 22 chiếc bình ắc quy trên các xe ô tô của anh Giáp Văn G, Giáp Văn C để tại các bãi xe trên địa bàn xã D, thành phố B. Trong đó trộm cắp của anh G 04 bình ắc quy, trộm cắp của anh C 18 bình ắc quy. Ngày 07/6/2024, H trộm cắp 03 bình ắc quy trên xe ô tô của anh C thì bị Công an xã D bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 21.350.000 đồng. H đã bán 19 bình ắc quy thu được tổng số tiền 10.700.000 đồng đã sử dụng mua ma tuý và tự sử dụng hết. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự,
thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh trên và điều khoản như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Về tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật trị an xã hội và hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã một lần bị xét xử hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học, vẫn cố ý phạm tội. Do vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù giam có thời hạn mới đảm bảo giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo phạm tội nhiều lần, có một tiền án nên lần phạm tội này là tái phạm nên phải chịu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo cơ thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, nhận thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đề nghị là phù hợp nên cần chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Anh Giáp Văn G yêu cầu bồi thường 4.400.000 đồng. Anh Giáp Văn C yêu cầu bồi thường số tiền 12.750.000 đồng (tương đương với giá trị số bình ắc quy ô tô không thu hồi được), anh Nguyễn Văn T không yêu cầu H bồi thường dân sự. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Giáp Văn G số tiền 4.400.000 đồng, bồi thường cho anh Giáp Văn C số tiền 12.750.000 đồng.
[9] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mỏ lết, 03 chiếc cờ lê, 01 chiếc tô vít, 01 con dao do liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và 01 chiếc áo sơ mi dài tay đen trắng do không còn giá trị sử dụng.
- - Trả lại bà Nguyễn Thị M 01 chiếc xe mô tô biển số 98N4-5141 do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
- - Trả lại bị cáo 01 điện thoại Samsung A50 màu đen, 01 căn cước công dân số [...] mang tên Chu Văn H và số tiền 650.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì thư nhưng cần tạm giữ 01 điện thoại Samsung A50 màu đen và số tiền 650.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì thư để đảm bảo thi hành án.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11] Đối với người đàn ông mua bình ắc quy mà H khai đã bán ở dọc đường và người đàn ông bán ma tuý cho H tại khu vực ngã tư quốc lộ C giao với lối đi sân golf L, do H không biết thông tin, địa chỉ của 2 người này nên Cơ quan điều tra không xác định được.
[12] Đối với Nguyễn Văn T mua tổng số 08 chiếc bình số ắc quy ô tô do Chu Văn H đem đến bán nhưng không biết là tài sản do H phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
[13] Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 48, khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ Điều 292, Điều 293, khoản 2 và khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 và khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Xử phạt bị cáo Chu Văn H 01(một) năm 08(tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian tù tính từ ngày 07/6/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Chu Văn H phải bồi thường cho anh Giáp Văn G số tiền 4.400.000 đồng, bồi thường cho anh Giáp Văn C số tiền 12.750.000 đồng.
- Về vật chứng của vụ án:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mỏ lết, 03 chiếc cờ lê, 01 chiếc tô vít, 01 con dao do liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và 01 chiếc áo sơ mi dài tay đen trắng.
- - Trả lại bà Nguyễn Thị M 01 chiếc xe mô tô biển số 98N4-5141.
- - Trả lại bị cáo 01 điện thoại Samsung A50 màu đen, 01 căn cước công dân số [...] mang tên Chu Văn H và số tiền 650.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì thư nhưng cần tạm giữ 01 điện thoại Samsung A50 màu đen và số tiền 650.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì thư để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 858.000 đồng (tám trăm năm mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
|
Nơi nhận:
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Số: 39/2024/TB-TA |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Thảo CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bắc Giang, ngày 20 tháng 9 năm 2024 |
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ các Điều 45, Điều 260 và Điều 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 180/2024/HS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang do có lỗi chính tả, nhầm lẫn cần được sửa chữa, bổ sung như sau:
- Về nội dung tại dòng thứ 6-10 từ trên xuống dưới của trang 07, dòng thứ 8-12 từ trên xuống dưới của trang 09 và dòng thứ 10-14 của trang 10 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Trả lại bị cáo 01 điện thoại Samsung A50 màu đen, 01 căn cước công dân số [...] mang tên Chu Văn H và số tiền 650.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì thư nhưng cần tạm giữ 01 điện thoại Samsung A50 màu đen và số tiền 650.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì thư để đảm bảo thi hành án.”.
- Về nội dung tại dòng thứ 11-15 từ trên xuống dưới của trang 07 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật”.
- Về nội dung tại dòng thứ 13-17 từ trên xuống dưới của trang 09 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
- Về nội dung tại dòng thứ 01-05 từ dưới lên trên của trang 09 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Căn cứ Điều 292, Điều 293, khoản 2 và khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 và khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
- Về nội dung tại dòng thứ 15-17 từ dưới lên trên của trang 10 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 858.000 đồng (tám trăm năm mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm”.
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Trả lại bị cáo 01 điện thoại Samsung A50 màu đen, 01 căn cước công dân số [...] mang tên Chu Văn H và số tiền 650.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì thư.”.
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm”.
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Căn cứ Điều 292, Điều 293, khoản 2 và khoản 3 Điều 106, khoản 1 và khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm”.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Thảo |
Bản án số 180/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 180/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chu Văn H - Trộm cắp tài sản
