Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 180/2023/DS-PT

Ngày 20-11-2023

V/v: Tranh chấp Hợp đồng

vay tài sản, kiện đòi tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

 

 

 

 

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hà Giang;

Các Thẩm phán: ông Đặng Văn Quyết và ông Nguyễn Việt Hùng;

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Tuyết- Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 20 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 171/2023/TLPT- DS ngày 12 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản và kiện đòi tài sản” do bản án dân sự sơ thẩm số 29/2023/DS–ST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 179/2023/QĐ-PT ngày 26 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1970 (có mặt); Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1963 (có mặt);

Đều có địa chỉ: thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: anh Ngô Hồng T, sinh năm 1971 (có mặt);

Địa chỉ: thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1976 (có mặt);

Địa chỉ: thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người kháng cáo: bị đơn – anh Ngô Hồng T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2023/DS–ST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang thì nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn – chị Nguyễn Thị M, anh Nguyễn Văn N trình bày: anh chị và anh Ngô Hồng T có quan hệ họ hàng, từ ngày 27/9/2010 (âm lịch) đến ngày 12/9/2011 (âm lịch) anh T có ba lần vay tiền anh chị và đều làm giấy vay tiền, tự nguyện ký vào giấy vay tiền. Cụ thể:

  1. Lần 1: ngày 11/10/2010 (dương lịch), vay số tiền 30.000.000 đồng, hai bên làm giấy vay tiền, thỏa thuận 01 tháng trả, lãi suất 3%/01 tháng, anh T để lại 01 chiếc xe máy Airblade để làm tin, đến ngày 15/10/2010 anh T đến trả anh chị 25.000.000 đồng, còn nợ lại 5.000.000 đồng.

  2. Lần 2: ngày 27/9/2010 (âm lịch) tức ngày 03/11/2010 (dương lịch), vay số tiền 30.000.000 đồng, hai bên làm giấy vay tiền, thỏa thuận đến ngày 07/10/2010 (âm lịch) sẽ trả, lãi suất 3%/01 tháng, anh T có để lại 01 chiếc xe máy Airblade biển kiểm soát 98X4-2895 làm tin. Đến ngày 26/12/2010 anh T chỉ đạo vợ chồng anh chị bán chiếc xe máy này được số tiền 9.000.000 đồng, sau đó anh T tự tay viết bán xe được 9.000.000 đồng, còn nợ lại 21.000.000 đồng.

  3. Lần 3: ngày 12/9/2011(âm lịch) tức ngày 08/10/2011 (dương lịch) vay số tiền 54.800.000 đồng, hai bên làm giấy vay tiền, lãi suất thỏa thuận 2%/01 tháng, thời hạn trả nợ thỏa thuận bằng miệng.

Tổng số tiền nợ gốc còn lại của ba lần vay là 80.800.000 đồng, vợ chồng anh chị đòi nhiều lần nhưng anh T không trả. Nay vợ chồng anh chị đề nghị anh Ngô Hồng T phải trả số nợ gốc còn lại của ba lần vay là 80.800.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày xét xử 18/8/2023 là 112.550.000 đồng. Tổng cả gốc và lãi anh chị yêu cầu anh T phải trả là 193.350.000 đồng. Việc vay mượn không liên quan đến các con chị cũng như vợ, con anh T.

Bị đơn – anh Ngô Hồng T trình bày: Anh xác định anh và vợ chồng chị M, anh N có quan hệ họ hàng, anh có ba lần làm giấy vay tiền chị M, anh N, cụ thể:

  1. Lần 1: ngày 11/10/2010 (Dương lịch), anh có vay 30.000.000 đồng, có giấy vay tiền, thỏa thuận 1 tháng sẽ trả tiền, lãi suất 3%/01 tháng (thực tế 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày), anh để 01 chiếc xe máy Airblade để làm tin, đến ngày 15/10/2010 anh trả 25.000.000 đồng và lấy lại xe. Do còn nợ lại 5.000.000 đồng nên vợ chồng M, N giữ lại đăng ký xe. Nay vợ chồng M, N yêu cầu anh phải trả số tiền gốc 5.000.000 đồng, anh không nhất trí, anh không yêu cầu trả lại đăng ký xe.

  2. Lần 2: ngày 27/9/2010 (âm lịch) tức ngày 03/11/2010 (dương lịch), anh có vay 30.000.000 đồng, có giấy vay tiền, anh để 01 chiếc xe Airblade biển kiểm soát 98X4-2895 làm tin, nếu không trả được nợ như thỏa thuận thì bán chiếc xe để trả nợ, thỏa thuận đến ngày 07/10/2010 trả hết gốc và lãi để lấy lại xe, lãi suất 3%/01 tháng, thực tế là 10.000đ ồng/1.000.000 đồng/01 ngày. Đến hạn anh không trả được tiền nên vợ chồng M, N bán chiếc xe được bao nhiêu tiền thì anh không biết nhưng vợ chồng M, N tự ghi bán chiếc xe được 9.000.000 đồng, còn nợ lại 21.000.000 đồng. Anh xác định phần đầu của hợp đồng vay tiền này do anh viết, phần sau từ đoạn “Tôi có hẹn đến ngày 07/10/2010 đến trả số tiền trên và lấy lại xe, ngày 26/12 tôi đã bán xe chả lại 9.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền trên” không phải do anh viết. Nay vợ chồng M, N yêu cầu anh phải trả số nợ gốc và lãi còn lại của khoản vay này, anh không nhất trí. Anh không nợ và không yêu cầu trả lại xe, khoản nợ này không còn nữa.

  3. Lần 3: đối với giấy vay tiền ngày 12/9/2011 (âm lịch) tức ngày 8/10/2011 (Dương lịch), số tiền 54.800.000 đồng, anh xác định khoản vay này là tổng của hai khoản vay lần trước, sau đó vợ chồng M, N bảo anh ký vào hợp đồng, vì lúc đang làm nhà, vì quan hệ gia đình nên anh ký vào cho xong, nhưng thực tế anh không được vay số tiền mặt đó.

Nay chị M, anh N khởi kiện đề nghị Tòa án buộc anh phải trả số nợ gốc còn lại của ba lần vay là 80.800.000 đồng và tiền lãi phát sinh, anh không nhất trí trả bất kỳ khoản nợ nào, do các khoản nợ này đều đã lâu nên anh đề nghị Tòa án xem xét đến thời hiệu khởi kiện của các khoản vay này.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị là vợ anh Ngô Hồng T, chị không được vay, không được sử dụng số tiền anh T vay. Không liên quan đến khoản nợ này, không được ký vào hợp đồng vay tiền.

Tại bản Kết luận giám định số: 1503/KL-KTHS ngày 15 tháng 8 năm 2023 của phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Tôi có hẹn đến ngày 07/10/2010 đến trả số tiền trên và lấy lại xe, ngày 26/12 tôi đã bán xe chả lại 9.000.000 đồng, còn lợ lại số tiền trên” tại các dòng từ 13 đến 16 tính từ trên xuống dưới ở mặt trước tài liệu cần giám định (Ký hiệu A) so với chữ viết còn lại ở mặt trước tài liệu cần giám định (ký hiệu A) trừ chữ viết có nội dung “lãi xuất...3 phẩy” thì do cùng một người viết ra.

Với nội dung trên, bản án dân sự số 29/2023/DS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã: Áp dụng Điều 255, Điều 256, Điều 471, Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005 xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M, anh Nguyễn Văn N. Buộc anh Ngô Hồng T phải có nghĩa vụ trả cho vợ chồng chị Nguyễn Thị M, anh Nguyễn Văn N tổng số tiền nợ gốc là 80.800.000 đồng (tám mươi triệu tám trăm nghìn đồng). Tiền lãi phát sinh tính đến ngày 18 tháng 8 năm 2023 (dương lịch) là 65.079.932 đồng (sáu mươi lăm triệu, không trăm bảy mươi chín nghìn, chín trăm ba mươi hai đồng). Tổng số gốc và lãi: 145.879.932 đồng (một trăm bốn mươi lăm triệu, tám trăm bảy mươi chín nghìn, chín trăm ba mươi hai đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, lãi suất chậm trả, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 30/8/2023, bị đơn – anh Ngô Hồng T kháng cáo Bản án sơ thẩm. Cụ thể: anh T không đồng ý việc giám định của cơ quan giám định: xác định phần chữ viết có đoạn “ngày 26/12 tôi đã bán xe chả lại 9.000.000 đồng, còn lợ lại số tiền trên” so với phần còn lại do cùng một người viết ra là không đúng, đối với khoản tiền vay số tiền là 54.800.000 đồng vay từ ngày 12/9/2011 anh T có ký nhưng không được vay tiền. Anh đề nghị TAND tỉnh Bắc Giang xem xét theo hướng anh T không còn nợ tiền chị M.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, sau khi được giải thích kết luận giám định anh T không có ý kiến thắc mắc gì về Kết luận giám định. Anh đề nghị HĐXX phúc thẩm xem xét kháng cáo của anh vì anh không được nhận khoản tiền vay 54.800.000 đồng ngày 12/9/2011.

Phần tranh luận các đương sự không tranh luận gì.

Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS). Sau khi xem xét, phân tích nội dung vụ án, yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX phúc thẩm: căn cứ khoản 1 Điều 308 của BLTTDS, không chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của anh T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về nội dung vụ án, HĐXX thấy: có căn cứ khẳng định ngày 11/10/2010 (dương lịch), anh T có vay của chị M, anh N số tiền 30.000.000 đồng, đã trả được 25.000.000 đồng, còn nợ lại 5.000.000 đồng. Ngày 27/9/2010 (âm lịch) tức ngày 03/11/2010 (dương lịch), anh T có vay của chị M, anh N số tiền 30.000.000 đồng, đã trả được 9.000.000 đồng, còn nợ lại 21.000.000 đồng. Cả hai khoản vay này đều có thời hạn, có lãi. Tính đến ngày khởi kiện đã hết thời hiệu yêu cầu giải quyết về hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự (BLDS) và phía anh T yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện để giải quyết vụ án. Như vậy anh N, chị M chỉ có quyền yêu cầu anh T phải trả lại tài sản là số tiền gốc còn lại của hai khoản vay trên là 26.000.000 đồng theo quy định tại Điều 166 của BLDS và số tiền này không được tính lãi.

Đối với khoản vay ngày 12/9/2011 (âm lịch) tức ngày 8/10/2011 (dương lịch), anh T có ký giấy vay anh N, chị M số tiền 54.800.000 đồng, giấy vay tiền không xác định thời hạn, có ghi lãi suất 2%/tháng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Hợp đồng vay tài sản” và giải quyết buộc anh T phải có trách nhiệm thanh toán trả anh N, chị M 54.800.000 đồng tiền gốc đã vay và chịu lãi theo lãi suất ngân hàng tại thời điểm xét xử từ ngày vay đến ngày xét xử theo yêu cầu của anh N, chị M là có căn cứ.

[3]. Xét kháng cáo của anh T yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo đó anh không còn nợ tiền chị M, anh N vì anh không được nhận số tiền 54.800.000 đồng của khoản vay ngày 12/9/2011 (âm lịch) mặc dù có ký giấy vay tiền và các khoản vay trước thì anh N, chị M đã bán xe máy anh cầm cố để lại. Tại cấp phúc thẩm, anh T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho kháng cáo của mình. Vì vậy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của anh T. Do vậy cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa.

[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hộiquy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: anh Ngô Hồng T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

    Xử: không chấp nhận kháng cáo của anh Ngô Hồng T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 29/2023/DS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

  2. Về án phí: anh Ngô Hồng T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm anh T đã nộp tại biên lai thu số 0004231 ngày 30/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.

  3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND, Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2023/DS-PT ngày 20/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 180/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản, kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger