Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 180/2024/KDTM-PT

Ngày: 19/7/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh;

Các Thẩm phán :Bà Phạm Thị Mai Ông Nguyễn Xuân Tuấn

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Hòa - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hà Nội

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 + 19/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 93/2024/KDTM - PT ngày 25/3/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 96/2023/KDTM-ST ngày 10/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 291/2024/QĐXXPT-KDTM ngày 26/4/2024; Các Quyết định hoãn phiên tòa số 292/2024/QĐPT-KDTM ngày 13/5/2024 và Quyết định số 409/2024/QĐPT-KDTM ngày 27/5/2024, giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TNHH MTV P. Địa chỉ: Tầng A, 10 và 11 tòa nhà Hà Nội Tungshing Square, số B phố N, phường L, quận H, thành phố Hà Nội. Địa chỉ liên hệ: Tầng A tháp B, tòa nhà C, số B phố T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Chee Keng E - Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tiến L - Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh C1; Bà Nguyễn Thị N - Chức vụ: Trưởng phòng Thanh toán Tập trung

- Bị đơn: Công ty TNHH C2. Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Bà Phạm Thúy H - Giám đốc Công ty

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Đỗ Huy T, sinh 1976. HKTT: Số A nhà C, tập thể N, phường N, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Bà Nguyễn Thị Tường V, sinh 1957. HKTT: Khu D, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Hiện trú tại: Nhà F, P1507, S, đường N, phường M, quận H, thành phố Hà Nội

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T: Luật sư Vũ Lê Thu T1. Địa chỉ: Ngõ A, T, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội

Ông Nguyễn Văn H1, sinh 1957. Địa chỉ: Số A đường N, thị trấn A, huyện A, thành phố Hải Phòng

Bà Nguyễn Thị T2, sinh 1978. Địa chỉ: thôn Đ, xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội

(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ngày 10/01/2020 TNHH P (Gọi tắt là Ngân hàng) có ký kết 01 Thỏa thuận tín dụng mang số CGY/000159/19 cùng các Phụ lục hợp đồng từ 1 đến 4 (Gọi tắt là Thỏa thuận vay vốn và các phụ lục) với Công ty TNHH C2 (Gọi tắt là Công ty C2). Nội dung của Thỏa thuận vay vốn và các phụ lục thể hiện việc Ngân hàng cấp cho Công ty C2 một hạn mức cho vay luân chuyển là 25.000.000.000đ; Mục đích vay: Hỗ trợ nhu cầu vốn lưu động của Công ty; Lãi suất và phí: Đối với khoản vay rút bằng VND: 2,5%/năm + lãi suất tiền gửi VND có kỳ hạn tương ứng. Đối với khoản vay rút bằng USD: 2%/năm + Lãi suất LIBOR có kỳ hạn tương ứng; Thời hạn duy trì hạn mức: Các khoản tín dụng cấp theo hạn mức sẽ được duy trì trong thời hạn tối đa là 06 tháng và được rà soát lại định kỳ, ngày rà soát lại đầu tiên sẽ đến hạn ngày 31/12/2020.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay tại Thỏa thuận nêu trên gồm:

  • - Các máy móc và trang thiết bị thuộc sở hữu của Công ty C2 theo Hợp đồng mua bán số 015/HĐ KT/TL-HP ngày 01/5/2018 và 03 Hóa đơn thương mại số 0000014 ngày 17/5/2018, số 00000021 ngày 11/6/2018 và số 0000025 ngày 27/6/2018; Hợp đồng mua bán số 188/2017/HĐ KT/WD-HP ngày 18/8/2017 và Hóa đơn thương mại số 00000421 ngày 08/9/2017, Hợp đồng mua bán số 11/2017/HĐKT/WD-HP ngày 25/10/2017 và Hóa đơn thương mại số 0000040 ngày 01/11/2017, Hợp đồng mua bán số 03/HĐKT-TL-HP ngày 10/3/2018 và Hóa đơn thương mại số 00000328 ngày 13/3/2018.
  • - Hàng hoá thành phẩm tồn kho thuộc quyền sở hữu của Công ty C2 là gỗ với trị giá 5.000.000.000đ.
  • Cả 02 tài sản thế chấp nêu trên đã được đăng ký biện pháp bảo đảm tại hợp đồng ngày 10/02/2020 của Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Hà Nội.
  • - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 758, tờ bản đồ 9, diện tích 446,3m² (Gồm 425,7m² đất ở và 20,6m² đất trồng cây lâu năm), địa chỉ: Phường T, quận I (Nay là thành phố T), thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng và sở hữu của ông Đỗ Huy T.

Ngoài ra, ông Nguyễn Văn H1bà Nguyễn Thị T2 còn ký Thư bảo lãnh cam kết trong trường hợp Công ty C2 không trả được một phần hoặc toàn bộ khoản vay 25.000.000.000đ khi đến hạn trả nợ thì ông H1, bà T2 sẽ thanh toán ngay, không chờ đến yêu cầu hay thông báo của Ngân hàng, kể cả các khoản tiền lãi, tiền phạt và các khoản phí Ngân hàng khác có thể phát sinh và tất cả các chi phí mà Ngân hàng có thể phải chi trong quá trình thu bất kỳ hoặc toàn bộ số nợ.

Thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty C2 vay số tiền là: 24.000.000.000đ theo 15 khế ước nhận.

Tuy nhiên, đến ngày 28/6/2021, Công ty vẫn còn nợ Ngân hàng: 24.000.000.000₫ (Gốc) + 518.967.123₫ (Lãi) + 42.985.644đ (Tiền phạt lãi quá hạn). Tổng cộng: 24.561.952.767₫.

Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty C2 phải trả nợ, trường hợp Công ty không trả thì đề nghị cho xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Trường hợp tài sản bảo đảm bán/xử lý không đủ để thanh toán nợ thì đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xác minh, kê biên và xử lý tài sản cá nhân của ông H1bà T2 để thu hồi các khoản nợ còn lại tại Ngân hàng.

Bị đơn Công ty TNHH C2: Thừa nhận việc ký kết hợp đồng tín dụng và các hợp đồng thế chấp tài sản thuộc sở hữu của Công ty C2 đúng như Ngân hàng trình bày. Công ty đã được Ngân hàng giải ngân cho Công ty vay đủ số tiền theo 15 Khế ước nhận nợ đã ký kết. Công ty cũng thừa nhận số tiền nợ gốc, nợ lãi tại Ngân hàng tính đến ngày 10/11/2023 đúng như trình bày và tính toán của Ngân hàng. Do hậu quả của dịch bệnh Covid 19, Công ty G nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh đến nay chưa khôi phục được. Công ty đề nghị được giãn nợ đến tháng 12/2023 sẽ tất toán khoản vay. Trường hợp không trả được nợ, Công ty đồng ý để Ngân hàng xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

Ông Đỗ Huy T người thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 758, tờ bản đồ 9, phường T, thành phố T không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không nộp bản tự khai trình bày quan điểm trước yêu cầu khởi kiện về phần xử lý tài sản ông đã thế chấp (thông qua người đại diện là ông Nguyễn Lê Phước A). Ông T còn ủy quyền cho 03 người đại diện thay mặt ông tham gia tố tụng gồm: Ông Nguyễn Văn C, ông Lê Anh T3ông Phạm Tiến T4 nhưng các ông này đều vắng mặt tại Tòa, không trình bày ý kiến.

Ông Nguyễn Văn H1bà Nguyễn Thị T2 trình bày: Ngày 10/02/2020 ông bà có ký Thư bảo lãnh cá nhân gửi Ngân hàng để bảo lãnh cho khoản vay 25.000.000.000₫ của Công ty C2 tại Ngân hàng. Trước yêu cầu đòi nợ và yêu cầu xử lý tài sản của Ngân hàng, ông bà đồng ý để cơ quan thi hành án điều tra, xác minh, kê biên và xử lý tài sản của cá nhân ông bà nhằm thu hồi nợ nhưng đề nghị Công ty C2 và chủ tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trước, khi xử lý hết tài sản thế chấp rồi mà không đủ thì ông bà sẽ dùng tài sản của mình để trả nợ cho Ngân hàng.

Bản án kinh doanh sơ thẩm số 96/2023/KDTM-ST ngày 10/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh đã quyết định:

Xử:

  1. Chấp nhận Đơn khởi kiện của Ngân hàng TNHH MTV P (P1) đối với Công ty TNHH C2.
  2. Buộc Công ty TNHH C2 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng P1 số tiền vay chưa thanh toán theo Thỏa thuận cấp tín dụng số: CGY/000159/19 ngày 10/02/2020 và các Khế ước nhận nợ đã ký giữa P1 Chi nhánh C1 với Công ty C2 với các khoản nợ tạm tính đến ngày 10/11/2023 là 30.105.591.013đ (Trong đó gồm: Nợ gốc là: 23.700.000.000đ; Nợ lãi trong hạn là: 6.044.534.787đ; Nợ lãi quá hạn là: 361.056.787đ).
  3. Công ty C2 tiếp tục phải trả khoản nợ lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong Thỏa thuận cấp tín dụng số CGY/000159/19 ngày 10/02/2020 và các Giấy vay tiền tính từ ngày 11/11/2023 cho đến khi trả xong nợ tại P1.
  4. Trường hợp Công ty C2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Public B có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lí tài sản bảo đảm, xác minh kê biên và xử lý tài sản thế chấp của Công ty C2 và tài sản cá nhân của người bảo lãnh để thu hồi nợ là:
    • - Tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty C2 gồm:
      • + Các máy móc và trang thiết bị theo Hợp đồng mua bán số 015/HĐKT/TL-HP ngày 01/5/2018 và 03 Hóa đơn thương mại số 0000014 ngày 17/5/2018, số 00000021 ngày 11/6/2018 và số 0000025 ngày 27/6/2018; Hợp đồng mua bán số 188/2017/HĐKT/WD-HP ngày 18/8/2017 và Hóa đơn thương mại số 00000421 ngày 08/9/2017, Hợp đồng mua bán số 11/2017/HĐKT/WD-HP ngày 25/10/2017 và Hóa đơn thương mại số 0000040 ngày 01/11/2017, Hợp đồng mua bán số 03/HĐKT-TL-HP ngày 10/3/2018 và Hóa đơn thương mại số 00000328 ngày 13/3/2018.
      • + Hàng hoá thành phẩm tồn kho là gỗ với trị giá 5.000.000.000₫.
    • - Tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Đỗ Huy T là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 758, tờ bản đồ 9, diện tích 446,3m² (Gồm 425,7m² đất ở và 20,6m² đất trồng cây lâu năm), thuộc địa chỉ: Phường T, quận I (Nay là thành phố T), thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với dất số CT 012557, số vào sổ cấp GCN: CS 08716 ngày 24/3/2020 do Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố H cấp cho ông Đỗ Huy T; Theo Hợp đồng thế chấp tài sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng: 04675, quyển số 03.TP/CC/HĐTHC ngày 30/3/2020; Đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 30/3/2020 tại Văn phòng Đ (N là thành phố T), thành phố Hồ Chí Minh.
    • Diện tích, kích thước tài sản bảo đảm được xác định theo số liệu đo đạc thực tế tại thời điểm cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành xử lý.
    • - Tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Văn H1bà Nguyễn Thị T2 theo các Thư bảo lãnh cá nhân của ông Nguyễn Văn H1bà Nguyễn Thị T2 gửi P1 Chi nhánh C1 cùng ký ngày 10/02/2020.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 21/11/2023 ông Đỗ Huy T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng tố tụng, ông T không được thông báo tham gia phiên tòa để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của minh nên đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và trình bày: căn cứ Thỏa thuận vay vốn, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty C2 vay 24.000.000.000đ, Công ty mới trả được 300.000.000đ, hiện còn nợ 23.700.000.000₫ tiền gốc và lãi. Mức lãi suất được các bên thỏa thuận trong các khế ước nhận nợ được tính xuyên suốt từ khi vay là 6,5% và 78% không điều chỉnh, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Người kháng cáo thay đổi yêu cầu kháng cáo và cho rằng mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm tố tụng, không triệu tập ông T tham gia phiên tòa, tham gia hòa giải nhưng ông T không đề nghị hủy án mà đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chia tách nghĩa vụ bảo đảm bơi tài sản bảo đảm cho khoản vay của Công ty C2 gồm có 03 tài sản (02 tài sản của chính Công ty, 01 tài sản của ông T) nên chia theo tỷ lệ, ông chỉ bảo đảm 52% giá trị khoản vay.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T trình bày luận cứ có nội dung chính:

Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng, ông T và người đại diện ủy quyền của ông T không nhận được thông báo tham gia phiên tòa xét xử để bảo vệ quyền lợi ích của ông T. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xác minh làm rõ thủ tục cấp tín dụng giữa Ngân hàng và Công ty C2 có đúng quy định hay không? Ngoài tài sản của ông T thế chấp cho Ngân hàng để bảo đảm cho Công ty C2 còn có 02 tài sản thuộc sở hữu của chính Công ty C2 là gỗ và các thiết bị máy móc trị giá 18.700.000.000₫ nên giới hạn bảo đảm của ông T chỉ bằng 52% giá trị khoản tiền vay. Đề nghị Tòa án phân tách giới hạn khi xử lý tài sản thế chấp.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội trình bày quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án có nội dung chính: Tại phiên tòa HĐXX đã thực hiện đúng quy định và yêu cầu chung của phiên tòa phúc thẩm: Thành phần HĐXX phúc thẩm, phạm vi xét xử phúc thẩm đúng quy định tại Điều 64 và Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 51 BLTTDS. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, các đương sự đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71, 72, 73 và 74 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo: Tòa án sơ thẩm đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông T và người đại diện ủy quyền của ông T, tuy nhiên một số văn bản khi niêm yết chưa niêm yết tại trụ sở Tòa án Đông Anh và không tống đạt cho người đại diện của ông T là vi phạm tố tụng. Việc vi phạm nêu trên không làm thay đổi nội dung vụ án nên không cần thiết phải hủy án.

Thỏa thuận cấp tín dụng giữa Ngân hàng và Công ty C2 có hiệu lực thi hành. Hiện Công ty còn tổng gốc và lãi là 30.105.591.018đ, Công ty cũng xác nhận số nợ nêu trên nên yêu cầu đòi nợ có căn cứ chấp nhận.

Về tài sản thế chấp: Ông T, bà T2, ông H1Công ty C2 đã tự nguyện ký kết hợp đồng thế chấp hoặc Thư bảo lãnh bảo đảm cho khoản vay của Công ty C2 tại Ngân hàng. Các hợp đồng nêu trên đều hợp pháp nên có hiệu lực thi hành. Đề xuất: Giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo và biên lai nộp tiền tạm ứng án phí của ông Đỗ Huy T (Ông T) làm và nộp trong thời hạn luật định nên kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận.

Xét về nội dung kháng cáo:

Xét về thủ tục tố tụng:

Ngày 28/6/2021 Ngân hàng TNHH MTV P2 (Ngân hàng) có Đơn khởi kiện gửi Tòa án Đông Anh, trong đó Ngân hàng khởi kiện bị đơn là Công ty TNHH C2 (Công ty C2) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đỗ Huy T (Ông T) phải trả nợ và xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn không trả nợ. Ngày 6/12/2021 Tòa án nhân dân huyện Đông Anh ban hành Thông báo thụ lý vụ án số 253/2021/TB-TLVA (Bút lục 311), thông báo được tống đạt cho Ngân hàng và Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ, có 1 phiếu gửi cho UBND xã X, Đ đề nghị giao tài liệu cho Công ty C2, không có tài liệu nào thể hiện việc tống đạt Thông báo thụ lý cho ông T là vi phạm quy định khoản 1 Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hồ sơ vụ án thể hiện, đến ngày 03/8/2023, Tòa án Đông Anh mới ban hành Thông báo về việc thụ lý, giải quyết vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm của Tòa án số 253/2023/TB-TA cho ông T (Sau gần 2 năm kể từ ngày thụ lý vụ án).

Tiếp theo, các văn bản tố tụng được tống đạt cho ông T (bằng hình thức niêm yết) không được niêm yết tại trụ sở Tòa án Đông A1 cũng là vi phạm. Tuy nhiên, ông T cũng đã biết việc Tòa án đang giải quyết vụ án đòi nợ đối với Công ty C2 và cũng biết Ngân hàng đang có yêu cầu xử lý tài sản do ông thế chấp cho Ngân hàng trong trường hợp Công ty không trả được nợ nhưng không thể hiện thiện trí, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

Xét thấy: Các vi phạm về tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm là có thật nhưng không làm thay đổi bản chất của vụ án, vì vậy HĐXX thấy không cần thiết phải hủy án sơ thẩm. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

Xét về hợp đồng tín dụng:

Xét thấy: Thỏa thuận tín dụng số CGY/000159/19 cùng các Phụ lục hợp đồng từ 1 đến 4 (Gọi tắt là Thỏa thuận vay vốn và các phụ lục) giữa Ngân hàng và Công ty C2 được ký kết tự nguyện, đúng thẩm quyền. Nội dung thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật nên Thỏa thuận có hiệu lực thi hành.

Thực hiện thỏa thuận, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty C2 vay tiền 24.000.000.000₫ theo 15 khế ước nhận nợ. Đến thời điểm xét xử sơ thẩm, Công ty mới trả được 300.000.000đ tiền gốc. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm buộc Công ty phải thanh toán khoản nợ gốc còn lại 23.700.000.000đ là có căn cứ.

Về yêu cầu đòi tiền lãi của Ngân hàng: Thấy rằng, theo các khế ước nhận nợ, các bên thỏa thuận lãi suất cho vay là 6,5%, duy nhất có 1 khế ước lãi suất thỏa thuận 7,8%. Đối chiếu bảng kê tính lãi thấy Ngân hàng đã áp dụng các tính lãi suất đúng thỏa thuận, lãi suất quá hạn được Ngân hàng áp dụng bằng 150% lãi cho vay trong hạn là 10,25% và 11,7% không vượt quá quy định của Ngân hàng N1 nên cũng có căn cứ chấp nhận.

Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp Công ty C2 không trả được nợ, HĐXX thấy rằng:

Tài sản thế chấp để bảo đảm cho khoản nợ của Công ty C2 tại Thỏa thuận tín dụng số CGY/000159/19 gồm: 03 tài sản trong đó có 02 tài sản thuộc quyền sở hữu của chính Công ty C2 là: Các máy móc và trang thiết bị theo Hợp đồng mua bán số 015/HĐ KT/TL-HP ngày 01/5/2018 và 03 Hóa đơn thương mại số 0000014 ngày 17/5/2018, số 00000021 ngày 11/6/2018 và số 0000025 ngày 27/6/2018; Hợp đồng mua bán số 188/2017/HĐKT/WD-HP ngày 18/8/2017 và Hóa đơn thương mại số 00000421 ngày 08/9/2017, Hợp đồng mua bán số 11/2017/HĐKT/WD-HP ngày 25/10/2017 và Hóa đơn thương mại số 0000040 ngày 01/11/2017, Hợp đồng mua bán số 03/HĐKT-TL-HP ngày 10/3/2018 và Hóa đơn thương mại số 00000328 ngày 13/3/2018 + Hàng hoá thành phẩm tồn kho là gỗ với trị giá 5.000.000.000₫. Và 01 tài sản là quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng của ông T.

Do vậy, kháng cáo của ông T đề nghị phân tách nghĩa vụ bảo đảm của từng tài sản là có căn cứ chấp nhận.

Theo biên bản định giá tài sản thế chấp để cho vay tiền do Ngân hàng thực hiện thì các thiết bị máy móc + gỗ của Công ty C2 trị giá 18.700.000.000đ.

Phạm vi nghĩa vụ bảo đảm của tài sản QSDĐ mang tên ông T với tỷ lệ 61,7% tương ứng với khoản nợ gốc 14.622.724.860đồng, nợ lãi trong hạn 3.729.433.295đồng, nợ lãi quá hạn 222.769.369đồng.

Phạm vi nghĩa vụ bảo đảm của các thiết bị máy móc + gỗ của Công ty C2 với tỷ lệ 38,3% tương ứng với khoản nợ gốc 9.077.275.140đồng; nợ lãi trong hạn 2.315.101.492đồng; nợ lãi quá hạn 138.287.418đồng.

Quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Từ những nhận định trên.

Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

QUYẾT ĐỊNH

Sửa bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 96/2023/KDTM-ST ngày 10/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu đòi nợ của Ngân hàng TNHH MTV P đối với Công ty TNHH C2.

    Công ty TNHH C2 phải thanh toán cho Ngân hàng TNHH MTV P bao gồm: 23.700.000.000₫ (Gốc) và 6.044.534.787đ (Lãi trong hạn) cùng 361.056.787đ (Lãi quá hạn). Tổng cộng 30.105.591.013₫

    Kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (11/11/12023) Công ty TNHH C2 còn phải chịu lãi suất trên số tiền nợ gốc chưa trả theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Thỏa thuận cấp tín dụng các khế ước nhận nợ đã ký kết.

  2. Trường hợp Công ty TNHH C2 không trả nợ thì Ngân hàng TNHH MTV P có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm, xác minh kê biên và xử lý tài sản thế chấp của Công ty TNHH C2 và tài sản cá nhân của người bảo lãnh để thu hồi nợ là:
    1. Tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH C2
      • + Các máy móc và trang thiết bị theo Hợp đồng mua bán số 015/HĐKT/TL-HP ngày 01/5/2018 và 03 Hóa đơn thương mại số 0000014 ngày 17/5/2018, số 00000021 ngày 11/6/2018 và số 0000025 ngày 27/6/2018; Hợp đồng mua bán số 188/2017/HĐKT/WD-HP ngày 18/8/2017 và Hóa đơn thương mại số 00000421 ngày 08/9/2017, Hợp đồng mua bán số 11/2017/HĐKT/WD-HP ngày 25/10/2017 và Hóa đơn thương mại số 0000040 ngày 01/11/2017, Hợp đồng mua bán số 03/HĐKT-TL-HP ngày 10/3/2018 và Hóa đơn thương mại số 00000328 ngày 13/3/2018. Phạm vi nghĩa vụ bảo đảm với tỷ lệ 28,09% tương ứng với khoản nợ gốc 2.419.058.507đồng, nợ lãi trong hạn 616.965.540đồng, nợ lãi quá hạn 36.853.059đồng.
      • + Hàng hoá thành phẩm tồn kho là gỗ với trị giá 5.000.000.000đ. Phạm vi nghĩa vụ bảo đảm với tỷ lệ 10,21% tương ứng với khoản nợ gốc 6.658.216.633 đồng, nợ lãi trong hạn 1.698.135.952đồng, nợ lãi quá hạn 101.434.359đồng.
    2. Tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Đỗ Huy T là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 758, tờ bản đồ 9, diện tích 446,3m² (Gồm 425,7m² đất ở và 20,6m² đất trồng cây lâu năm), thuộc địa chỉ: Phường T, quận I (Nay là thành phố T), thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với dất số CT 012557, số vào sổ cấp GCN: CS 08716 ngày 24/3/2020 do Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố H cấp mang tên ông Đỗ Huy T. Phạm vi nghĩa vụ bảo đảm của tài sản này có tỷ lệ 61,7% tương ứng với khoản nợ gốc 14.622.724.860đồng, nợ lãi trong hạn 3.729.433.295đồng, nợ lãi quá hạn 222.769.369đồng.

      Diện tích, kích thước tài sản bảo đảm được xác định theo số liệu đo đạc thực tế tại thời điểm cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành xử lý.

    3. Tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Văn H1bà Nguyễn Thị T2 theo các Thư bảo lãnh cá nhân của ông Nguyễn Văn H1bà Nguyễn Thị T2 gửi P1 Chi nhánh C1 cùng ký ngày 10/02/2020.
  3. Về án phí:
    • - Án phí sơ thẩm:

      Công ty TNHH C2 phải chịu 138.105.000đồng án phí sơ thẩm;Hoàn trả Ngân hàng TNHH MTV P số tiền 66.281.000đồng đã nộp theo Biên lai số 45867 ngày 03/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

    • - Án phí phúc thẩm:

      Hoàn trả ông Đỗ Huy T số tiền 2.000.000đồng đã nộp theo Biên lai số 16846 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -Các đương sự;
  • -VKSNDTP Hà Nội;
  • -TAND huyện Đông Anh;
  • -Chi cục THA huyện Đông Anh;
  • -Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy H2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2024/KDTM-PT ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 180/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger