|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 180/2024/HNGĐ-ST Ngày 18-6-2024 V/v ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Hoàng Dân và bà Nguyễn Thị Hương Giang
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc Bích, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Tuấn - Kiểm sát viên
Trong ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở TAND huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 144/ 2024/ TLST - HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 về việc kiện ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/ 2024/ QĐXX - ST ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2024/QÐST - DS ngày 14/6/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị C, sinh năm 1986
Bị đơn: Anh Phạm Văn L, sinh năm 1983
Đều có HKTT: Đội 9, thôn N, xã X, huyện M, Thành phố Hà Nội.
Chị C có đơn xin xét xử vắng mặt, anh L vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và những buổi làm việc tại Toà, nguyên đơn chị Trần Thị C trình bày:
- Về hôn nhân: Chị C và anh Phạm Văn L tự nguyện kết hôn vào ngày 12/6/2006, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện M Thành phố Hà Nội. Sau khi cưới vợ chồng chung sống với nhau tại gia đình anh L, ở Đ, thôn N, xã X, huyện M, Thành phố Hà Nội. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm lối sống khác nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã ly thân nhiều tháng nay không còn quan hệ gì. Nhận thấy tình cảm không còn, hạnh phúc không có, chị C đề nghị được ly hôn với anh L.
- Về con chung: Vợ chồng có 04 con chung là cháu Phạm Việt A, sinh ngày 24/7/2008; cháu Phạm Thị Anh Đ, sinh ngày 06/11/2010, cháu Phạm Kim A1, sinh ngày 09/9/2016, cháu Phạm Công A2, sinh ngày 31/7/2018. Hiện nay cả 04 con chung đang ở với anh L. Ly hôn chị C xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Phạm Thị Anh Đ, cháu Phạm Kim A1 và đồng ý để cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Việt A và cháu Phạm Công A2; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ: Không nợ lần gì ai.
Ngoài ra, do điều kiện làm ăn ở xa, hoàn cảnh kinh tế khó khăn không thuận tiện trong việc đi lại, chị C xin vắng mặt tại phiên tòa.
Về phía anh Phạm Văn L trình bầy:
- Về hôn nhân: Anh L và chị Trần Thị C tự nguyện kết hôn từ năm 2006. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau ngay tại gia đình anh L, ở Đ, thôn N, xã X, huyện M, Thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm lối sống khác nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, cứ mỗi khi vợ chồng cãi nhau thì chị C lại bỏ đi khoảng 01 tháng lại về; vợ chồng đã ly thân nhiều tháng nay không còn quan hệ gì. Nay chị C xin ly hôn với anh, anh L không đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Anh L xác nhận vợ chồng có 04 con chung là cháu Phạm Việt A, sinh ngày 24/7/2008; cháu Phạm Thị Anh Đ, sinh ngày 06/11/2010, cháu Phạm Kim A1, sinh ngày 09/9/2016, cháu Phạm Công A2, sinh ngày 31/7/2018; hiện nay cả 04 con chung đang ở với anh L. Ly hôn anh L xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Phạm Việt A và cháu Phạm Công A2 và đồng ý để cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Phạm Thị Anh Đ, cháu Phạm Kim A1; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Đại diện VKSND huyện Mỹ Đức tham gia phiên toà phát biểu về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về thủ tục tố tụng của Pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị C, cho chị C được ly hôn với anh Phạm Văn L. Giao cháu Phạm Thị Anh Đ, sinh ngày 06/11/2010 và cháu Phạm Kim A1, sinh ngày 09/9/2016 cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Giao cháu Phạm Việt A, sinh ngày 24/7/2008 và cháu Phạm Công A2, sinh ngày 31/7/2018 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị C, anh L và không xem xét quan hệ tài sản chung vợ chồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng anh Phạm Văn L vẫn vắng mặt. Theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Chị Trần Thị C và anh Phạm Văn L tự nguyện kết hôn ngày 12/6/2006, bằng việc đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện M, Thành phố Hà Nội, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn hai anh, chị chung sống với nhau ngay tại gia đình anh L, ở Đ, thôn N, xã X, huyện M, Thành phố Hà Nội. Quan hệ vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm lối sống khác nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, khiến chị C quyết định ly thân anh bằng cách đi ở chỗ khác để thoát ly đời sống chung vợ chồng. Quá trình giải quyết anh L không đồng ý ly hôn, nhưng khi Tòa án triệu tập để hòa giải vợ chồng về đoàn tụ thì anh L không đến Tòa, không chỉ thể hiện thái độ không tôn trọng cơ quan tố tụng mà ở một góc độ khác còn thể hiện ý thức không mong muốn hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Xác minh tại nơi cư trú, chính quyền địa phương cũng xác nhận, mâu thuẫn giữa các bên là có, hiện tại chị C không còn chung sống với anh L nữa. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị C và anh L đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, không còn ý nghĩa. Vì vậy, yêu cầu của chị C xin ly hôn anh L là có cơ sở, nên áp dụng các quy định tại các Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 39 của BLDS chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị C, cho chị C được ly hôn với anh Phạm Văn L.
Về con chung: Vợ chồng có 04 con chung là cháu Phạm Việt A, sinh ngày 24/7/2008; cháu Phạm Thị Anh Đ, sinh ngày 06/11/2010; cháu Phạm Kim A1, sinh ngày 09/9/2016; cháu Phạm Công A2, sinh ngày 31/7/2018; hiện nay cả bốn con chung đang ở với anh L. Quá trình giải quyết vụ án, chị C xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Phạm Thị Anh Đ và cháu Phạm Kim A1, anh L đồng ý; anh L xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Phạm Việt A và cháu Phạm Công A2, chị C đồng ý; hơn nữa các con chung đều có nguyện vọng xin được ở với chị C, anh L. Xét sự tự nguyện của các bên là phù hợp và không trái với quy định của Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; HĐXX nhất trí giao cháu Phạm Thị Anh Đ và cháu Phạm Kim A1 cho chị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Phạm Việt A và cháu Phạm Công A2 cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho chị C, anh L đến khi chị C, anh L có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Chị Trần Thị C và anh Phạm Văn L đều không yêu cầu, nên Tòa không xét.
Về công nợ chung: Không có, nên Tòa không xét.
Về án phí: Chị Trần Thị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 39 BLDS; Điều 147 Bộ luật TTDS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho Trần Thị C được ly hôn anh Phạm Văn L.
- Về con chung: Giao chị Trần Thị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Phạm Thị Anh Đ, sinh ngày 06/11/2010 và cháu Phạm Kim A1, sinh ngày 09/9/2016; giao anh Phạm Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Phạm Việt A, sinh ngày 24/7/2008 và cháu Phạm Công A2, sinh ngày 31/7/2018. Tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho chị C, anh L đến khi chị C, anh L có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Chị C, anh L đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Trần Thị C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào khoản tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên thu tạm ứng án phí số 0007858 ngày 23/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức. Chị C đã nộp đủ án phí án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lã Phi Hùng |
Bản án số 180/2024/HNGĐ-ST ngày 18/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 180/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn C-L
