|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 180/2024/HS-ST Ngày 17-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Hùng và ông Phạm Lành .
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện VKSND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đăng H - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 162/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:175/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với:
- Họ và tên: Phí Đăng L; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1963 tại Thái Nguyên; Nơi cư trú: Xóm G, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/10; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Phí Đăng I (đã chết) và bà: Đào Thị Đ (đã chết); Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 06; Vợ: Đặng Thị T (đã chết); Có 02 con, con lớn sinh năm 1985, con nhỏ sinh năm 1988; Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân:
- + Tại Bản án số 14/HSST ngày 16/7/1988 của Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) xử 09 tháng tù nhưng hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản của dân".
- + Tại Bản án số 01/HSST ngày 23/2/1990 của Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) xử phạt 09 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản".
- + Tại Bản án số 48/STHS ngày 27/5/1994 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) xử phạt Phí Đăng L 12 năm tù về tội “Cướp tài sản công dân" và 03 năm tù về tội “Tổ chức dùng chất ma túy", tổng hợp hình phạt chung là 15 năm tù. Ra trại ngày 01/02/2005. Chấp hành xong án phí ngày 14/10/2005.
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Như H1, sinh năm 1964, vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm B, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 05/3/2024, tổ công tác của Công an xã H, thành phố T thực hiện công tác quản lý người nghiện, người có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma tuý tiến hành mời Phí Đăng L là đối tượng có biểu hiện nghi vấn với sử dụng trái phép chất ma tuý lên trụ sở Công an xã thuộc xóm Đ, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên làm việc. Quá trình làm việc, L đã tự giác lấy ra 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng, đang được cất giấu ở túi quần phía trước bên phải L đang mặc giao nộp cho tổ công tác (niêm phong ký hiệu A), L khai là ma tuý của L mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phí Đăng L và niêm phong, thu giữ vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A có khối lượng 0,787 gam (niêm phong ký hiệu L1 gửi giám định).
Tại Kết luận giám định số 430/KL-KTHS ngày 13/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu L1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,787 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Phí Đăng L khai nhận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 05/3/2024, L đi từ nhà ở xóm G, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực phường G, thành phố T với mục đích mua ma tuý để sử dụng cho bản thân. Tại đây, L gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói ma tuý được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 900.000 đồng. Mua xong, L cất giấu gói ma tuý vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi về nhà tại xóm G, xã H, thành phố T để sử dụng. Về đến nơi, L lấy một ít ra để sử dụng, số còn lại thì cất vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc. Đến khoảng 11 giờ 00 cùng ngày, khi L đang ở nhà thì được tổ công tác Công an xã H đến mời lên trụ sở Công an xã để làm việc. Tại đây, Công an xã H đã phát hiện và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Cáo trạng số 168/CT-VKSTPTN ngày 17 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Phí Đăng Lịch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã trình bày bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phí Đăng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Phí Đăng L từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu L1 bên trong chứa 0,747 gam ma túy, loại Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu L2 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo Phí Đăng L không tranh luận với Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội.
Xét thấy, lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 05/3/2024, tại xóm Đ, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Phí Đăng L có hành vi tàng trữ 0,787 gam chất ma tuý, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã H, T bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Phí Đăng L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Nội dung điều luật quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.
[3]. Xét tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước, làm mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Ma túy là một loại độc dược gây nghiện khi sử dụng nó sẽ làm con người bị lệ thuộc và mất đi nhân cách, nó còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Hành vi nêu trên của bị cáo bị pháp luật ngăn cấm, bị xã hội lên án, do đó cần phải bị xử phạt mức án nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4]. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự và nhân thân của bị cáo thấy:
- - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, tại Bản án số 14/HSST ngày 16/7/1988 của Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) xử phạt 09 tháng tù nhưng hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản của dân"; tại Bản án số 01/HSST ngày 23/2/1990 của Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) xử phạt 09 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản"; tại Bản án số 48/STHS ngày 27/5/1994 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) xử phạt Phí Đăng L 12 năm tù về tội “Cướp tài sản công dân" và 03 năm tù về tội “Tổ chức dùng chất ma túy", tổng hợp hình phạt chung là 15 năm tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2005, chấp hành xong án phí ngày 14/10/2005. Ngày 15/3/2024 bị Công an thành phố T, tỉnh Thái Nguyên ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, L chưa nộp phạt.
[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết xử phạt bị cáo Phí Đăng L buộc cách ly xã hội mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Đồng thời cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân, trước khi bị bắt là lao động tự do thu nhập không ổn định và không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7]. Về vật chứng của vụ án cần được xử lý như sau: 01 bì niêm phong ký hiệu L1 bên trong chứa 0,747 gam ma túy, loại Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu L2 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu. Đây là số ma túy còn lại sau giám định cấm sử dụng lưu hành và các vỏ bao bì không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[8]. Về nguồn gốc số Heroine thu giữ, Phí Đăng L khai mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ tại khu vực phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch của người này Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở làm rõ để xử lý.
[9]. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Phí Đăng L, ngày 15/3/2024 Công an thành phố T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền.
[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[11]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên toà hôm nay về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, khung hình phạt và các vấn đề liên quan trong vụ án đối với bị cáo là phù hợp với hành vi mà bị cáo gây ra.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Phí Đăng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, 136, 299, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hình phạt chính: Xử phạt Phí Đăng L 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/3/2024.
Quyết định tạm giam bị cáo Phí Đăng L 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu L1 bên trong chứa 0,747 gam ma túy, loại Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu L2 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu.
(Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục THADS thành phố T theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T với Chi cục THA dân sự thành phố T số 201ngày 26/6/2024).
4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Hương |
Bản án số 180/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 180/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phí Đăng Lịch tàng trữ trái phép chất ma túy
