|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 198/2024/DS-PT
Ngày: 23/4/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.
- Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh
- Ông Đinh Chí Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Phan Văn Phụng - Kiểm sát viên.
Ngày 23/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 172/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 88/2023/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 222/2024/QĐ-PT
ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Phạm Văn S, sinh năm 1967;
- Bà Trương Thị N, sinh năm 1978.
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C - Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông S và bà N là anh Lê Ngọc P, sinh năm 1997,
Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông S và bà N là Luật sư Trần Tấn T - thành viên Công ty L và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
- Bị đơn:
- Ông Phạm Tấn C, sinh năm 1965;
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1968.
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C - Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Ông Phạm Tấn C, bà Nguyễn Thị T1 là các bị đơn của vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Phạm Văn S và bà Trương Thị N ủy quyền cho anh Lê Ngọc P trình bày:
Ông Phạm Tấn C và bà Nguyễn Thị T1 là anh và chị dâu của ông Phạm Văn S và bà Trương Thị N. Do ông C và bà T1 cần tiền để giải quyết khó khăn nên có hỏi ông S và bà N để vay số tiền 300.000.000 đồng, nên vào ngày 03/02/2018 hai bên có đến Văn phòng Công chứng huyện C, tỉnh Đồng Tháp để làm hợp đồng vay số công chứng 4178, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ông S và bà N cho ông C và bà T1 vay số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 1,5%/tháng, ông S và bà T1 nhận tiền tại Văn phòng Công chứng huyện C và có ký tên biên bản giao nhận tiền cùng ngày. Từ lúc vay đến nay ông C và bà T1 không trả vốn và cũng không trả lãi cho ông S và bà N. Theo thỏa thuận thời hạn vay chỉ 02 tháng, sau hai tháng ông S, bà N có đến yêu cầu ông C, bà T1 trả tiền nhưng hứa hẹn rất nhiều lần mà không trả cho vợ chồng ông S, bà N số tiền vốn vay và lãi suất theo thỏa thuận.
Nay ông Phạm Văn S và bà Trương Thị N yêu cầu ông Phạm Tấn C và bà Nguyễn Thị T1 liên đới trả cho ông S, bà N số tiền 570.150.000 đồng, trong đó vốn vay là 300.000.000 đồng và 270.150.000 đồng tiền lãi (lãi tạm tính từ ngày 03/02/2018 đến 04/12/2023 là 60 tháng 01 ngày x 1,5%/tháng x 300.000.000 đồng = 270.150.000 đồng).
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Phạm Tấn C và bà Nguyễn Thị T1 trình bày:
Ông Phạm Tấn C là anh ruột của ông Phạm Văn S, bà Trương Thị N là vợ ông S và là em dâu của ông C. Ông C và bà T1 thừa nhận vào ngày 03/02/2018 có đến Văn phòng Công chứng huyện C, tỉnh Đồng Tháp để làm hợp đồng vay của ông S và bà N số tiền là 300.000.000 đồng theo hợp đồng vay số công chứng 4178, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD, lãi suất thỏa thuận là 1,5%/tháng, thời hạn vay là 02 tháng và có ký vào biên nhận nhận tiền, nhưng thực tế ông C và bà T1 không có nhận số tiền 300.000.000 đồng từ ông S và bà N. Do đó, ông Pham Tấn C1 và bà Nguyễn Thị T1 không đồng ý liên đới trả ông Phạm Văn S và bà Trương Thị N số tiền vốn 300.000.000 đồng và tiền lãi theo yêu cầu của ông S và bà N. Lý do, trước đó con của ông C1, bà T1 là Phạm Nguyễn Phú Q có mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông S, bà N để thế chấp vay tiền của người khác tên là Nguyễn Thị B và ông T2 (không nhớ rõ họ tên đầy đủ của ông T2 là gì) để vay số tiền là 300.000.000 đồng, nhưng con ông, bà làm ăn thất bại không có khả năng trả tiền cho bà B. Bà B đã khởi kiện Phú Q ra Tòa án và vụ việc đã giải quyết xong. Thời điểm đó do Phú Q chưa trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S, bà N
nên ông S, bà N thường xuyên gây áp lực và yêu cầu ông C1, bà T1 phải ký nhận nợ số tiền 300.000.000 đồng thay cho con ông bà. Vì để yên ổn làm ăn nên vợ chồng ông C1, bà T1 đồng ý ký nhận số nợ này, chứ thực tế không nhận tiền của ông S và bà N.
Nay ông Pham Tấn C1 và bà Nguyễn Thị T1 không đồng ý trả số tiền 570.150.000 đồng cho ông S và bà N.
* Tại quyết định của bản án sơ thẩm số: 88/2023/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc yêu cầu thanh toán số tiền vay còn nợ; Buộc ông Pham Tấn C1 và bà Nguyễn Thị T1 trả cho đơn ông Phạm Văn S, bà Trương Thị N số tiền vay còn nợ là 570.150.000 đồng (Năm trăm bảy mươi triệu một trăm năm mươi ngàn đồng), gồm vốn là 300.000.000 đồng và lãi là 270.150.000 đồng.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Về án phí: ông Pham Tấn C1 và bà Nguyễn Thị T1 phải nộp 28.507.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Phạm Văn S, bà Trương Thị N được nhận lại số tiền 13.040.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp ngày 13/02/2023 theo biên lai số 0015494 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20/12/2023, ông Phạm Tấn C, bà Nguyễn Thị T1 kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- Ông Phạm Tấn C, bà Nguyễn Thị T1 vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Xét kháng cáo của ông Phạm Tấn C và bà Nguyễn Thị T1 là không có căn cứ; nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Tấn C và bà Nguyễn Thị Tuyết g nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghe ý kiến của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của ông Phạm Tấn C và bà Nguyễn Thị T1, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ông Phạm Văn S và bà Trương Thị N yêu cầu ông Phạm Tấn C và bà Nguyễn Thị T1 phải trả số tiền nợ vốn vay là 300.000.000 đồng và tiền lãi là 270.150.000 đồng theo hợp đồng vay ngày 03/12/2018 vì cho rằng phía ông Phạm Tấn C và bà Nguyễn Thị T1 đã vi phạm toàn bộ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi.
Việc phía ông Phạm Tấn C và bà Nguyễn Thị Tuyết n ra rằng việc ông bà ký hợp đồng như trên với ông S, bà N là do trước đó con của ông C, bà T1 là Phạm Nguyễn Phú Q có mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông S, bà N để thế chấp vay tiền của người khác (tên là Nguyễn Thị B và ông T2; không nhớ rõ họ tên đầy đủ của ông T2 là gì) để vay 300.000.000 đồng, nhưng do anh Q làm ăn thất bại và không có khả năng trả tiền cho bà B; bà B đã khởi kiện anh Q ra Tòa án và vụ việc đã giải quyết xong; thời điểm đó do Q chưa trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S, bà N nên ông S, bà N đã thường xuyên gây áp lực và yêu cầu ông C, bà T1 phải ký nhận nợ số tiền 300.000.000 đồng thay cho con ông bà, nên ông mới ký tên vào hợp đồng vay này, chứ thực tế là ông bà không có vay số tiền 300.000.000 đồng của ông S, bà N theo như hợp đồng vay tiền nói trên. Tuy nhiên, lời trình bày này phía ông S, bà N không thừa nhận và phía ông C, bà T1 cũng có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho lời khai nại này, vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận lời trình bày của bị đơn là có căn cứ.
Xét thấy, Hợp đồng vay ngày 03/12/2018 do phía nguyên đơn cung cấp có công chứng, chứng thực; nội dung thể hiện phía bị đơn có vay tiền của nguyên đơn 300.000.000 đồng cũng như thỏa thuận lãi suất là 1,5%/tháng, thời hạn vay là 02 tháng, đúng như lời trình bày của nguyên đơn. Việc nguyên đơn và bị đơn ký kết hợp đồng vay tiền là sự tự nguyện và không bị ai ép buộc; nguyên đơn và bị đơn có lời khai thống nhất và phù hợp với hợp đồng vay và biên bản giao nhận tiền cùng ngày 03/12/2018 đã được Văn phòng C2 thành chứng thực. Do đó, hợp đồng vay được giao kết giữa nguyên đơn và bị đơn là có hiệu lực pháp luật, các bên tham gia giao kết hợp đồng phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Do kể việc kể từ ngày 03/12/2018 đến nay bị đơn không trả vốn và lãi cho nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ đối với nguyên đơn theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả số tiền vốn vay là 300.000.000 đồng là hoàn toàn có căn cứ.
Đối với lãi suất, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi suất đối với số tiền vay 300.000.000 đồng với mức lãi suất đã được thỏa thuận trong hợp đồng vay là 1,5%/tháng, thời gian tính từ ngày vay (03/12/2018) đến ngày 04/12/2023 là 60 tháng 01 ngày = 300.000.000 đồng x 1,5%/tháng x 60 tháng 01 ngày = 270.150.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy mức lãi suất này là do hai bên đã thỏa thuận đồng thời là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, nên Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về mức lãi và thời gian tính lãi như trên là hoàn toàn phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông C và bà T1 cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông C và bà T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[2] Xét quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị: Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải trả số tiền vốn còn nợ là là 300.000.000 đồng và lãi là 270.150.000 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Xét đề nghị này là có căn cứ nên chấp nhận.
[3] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu về việc tuân thủ pháp luật từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều thực hiện đúng quy định của pháp luật và không có kiến nghị. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề xuất hướng giải quyết là không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông C và bà T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị trên là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm được giữ nguyên nên ông C và bà T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Pham Tấn C1 và bà Nguyễn Thị Tuyết.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 88/2023/DS-ST ngày 15/12/2023 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc yêu cầu thanh toán số tiền vay còn nợ.
- Buộc ông Pham Tấn C1 và bà Nguyễn Thị T1 trả cho đơn ông Phạm Văn S, bà Trương Thị N số tiền vay còn nợ là 570.150.000 đồng (Năm trăm bảy mươi triệu một trăm năm mươi ngàn đồng), gồm vốn là 300.000.000 đồng và lãi là 270.150.000 đồng.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Về án phí sơ thẩm: ông Pham Tấn C1 và bà Nguyễn Thị T1 phải nộp 28.507.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Phạm Văn S, bà Trương Thị N được nhận lại số tiền 13.040.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp ngày 13/02/2023 theo biên lai số 0015494 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
- Về án phí phúc thẩm: Ông Pham Tấn C1 và bà Nguyễn Thị T1 phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà ông, bà đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002113 ngày 21/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy |
Bản án số 198/2024/DS-PT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 198/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Ông Trần Văn M, sinh năm 1966. - Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1976. (chết)
