|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 180/2024/HS-ST
Ngày: 13-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU,
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Phượng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Sỹ Tiến; Bà Ngô Thị Thúy Hảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Cao Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 145/2024/HSST ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/2024/QĐXX-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024, Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 02/2024/QĐ-TĐTT ngày 03-6-2024, đối với bị cáo:
Lê Quốc T (Tên gọi khác: Không), sinh năm: 2000 tại tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú: Tổ E, ấp Đ, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hoá: 5/12; Nghề nghiệp: Đi biển; Cha Lê Văn V, sinh năm: 1977 và mẹ Trần Thị Mỹ D, sinh năm: 1977; Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có bốn anh em. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 14-01-2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 14-01-2024, tại Phòng số 7 nhà nghỉ N, địa chỉ số E T, Phường E, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an P, Thành phố V phát hiện, bắt quả tang Lê Quốc T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Methamphetamine) đồng thời thu giữ vật chứng của vụ án.
Quá trình điều tra, Lê Quốc T khai nhận: Chiều ngày 13-01-2024, sau khi đi biển đánh cá vào bờ, T đến thuê Phòng số 7 nhà nghỉ N, địa chỉ số E đường T, Phường E, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để ở. Bản thân T nghiện ma túy từ năm 2020 đến nay, do có nhu cầu sử dụng nên vào tối ngày 13-01-2024, T liên hệ qua Zalo nhờ một người đàn ông tên T1 (không rõ lai lịch) mua giùm Thiệu 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) ma túy đá, T1 đồng ý và hẹn Thiệu đến khu vực ngã tư G trên đường N, thành phố V. Khi đến T đưa cho T1 số tiền 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) T1 đi đâu đó một lát rồi quay lại đưa cho T một gói ma túy đá. Sau khi có ma túy, T mang về Phòng số 7 nhà nghỉ N nói trên sử dụng một mình và đã sử dụng hết số ma túy này. Đến khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 14-01-2024. Thiệu tiếp tục liên hệ qua Z cho T1 để nhờ mua giùm 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) ma túy đá, T1 đồng ý. Khoảng 10 giờ 45 phút, T1 đi đến nhà nghỉ N, T đưa cho T1 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng). Sau đó, T1 đi đâu đó một lát rồi quay lại đưa cho T một gói ma túy đá, T mang ma túy lên Phòng số 7 của nhà nghỉ N và để lên bàn, mục đích sử dụng, khoảng 11 giờ 00 phút ngày 14-01-2024 Công an P, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hiện, bắt quả tang đồng thời thu giữ vật chứng như trên.
Lời khai của Lê Quốc T phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang (các bút lục điều tra số 25), phù hợp với lời khai của người chứng kiến là anh Nguyễn Việt T2 ( sinh năm: 1995; trú tại: Số A L, phường T, thành phố V (các bút lục điều tra số 60, 61) và phù hợp với chứng cứ thu thập được.
Bản kết luận giám định số 120/KL-KTHS-MT ngày 21-01-2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết Luận: Một phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an P - C1, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Thiếu tá Vũ Kiên C, Nguyễn Việt T2, Lê Quốc T, Nguyễn Khắc H1, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (kí hiệu mẫu A). Mẫu A có khối lượng 0,3304 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. (bút lục điều tra số 29).
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng trong vụ án:
- * Lực lượng chức năng đã thu giữ vật chứng vụ án gồm:
- - 01 (một) gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất kết tinh không màu trong suốt, qua giám định có khối lượng 0,3304 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Sau giám định Phòng K Công an tỉnh B hoàn lại 01 (một) phong bì niêm phong vụ số 120 ngày 21 tháng 01 năm 2024;
- - 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG A12 màu đen, số IMEI1: 358334900545303; số IMEI2: 359755830545303;
- Vật chứng, tài sản nêu trên chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 148/CT-VKS ngày 07-5-2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Lê Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo T, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T mức án từ 12 (Mười hai) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền; Về xử lý vật chứng, tài sản: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất kết tinh không màu trong suốt, qua giám định có khối lượng 0,3304 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Sau giám định Phòng K Công an tỉnh B hoàn lại 01 (một) phong bì niêm phong vụ số 120 ngày 21 tháng 01 năm 2024 và tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG A12 màu đen, số IMEI1: 358334900545303; số IMEI2: 359755830545303.
Tại phiên tòa, bị cáo T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Căn cứ lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa, đối chiếu lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật bị thu giữ, bản kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 14-01-2024, tại Phòng số 7 nhà nghỉ N, địa chỉ số E T, Phường E, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an P, thành phố V phát hiện, bắt quả tang Lê Quốc T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,3304 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine, Thiệu tàng trữ số ma túy này nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Do đó, hành vi của bị cáo T đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ ma túy để sử dụng không những gây tác hại vô cùng nghiêm trọng đến sức khỏe của bị cáo mà còn là nguyên nhân phát sinh lây lan tệ nạn nghiện, hút ma túy, nhiều tệ nạn xã hội khác và các căn bệnh truyền nhiễm, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo T còn trẻ, có sức khỏe nhưng không rèn luyện, lao động kiếm sống để làm người lương thiện, có ích cho gia đình, xã hội mà thực hiện hành vi vi phạm pháp luật là tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt phù hợp, đủ mức răn đe giáo dục bị cáo, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau:
- [4.1] Tình tiết tăng nặng: Không có.
- [4.2] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo T.
[5] Về xử lý vật chứng trong vụ án:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất kết tinh không màu trong suốt, qua giám định có khối lượng 0,3304 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Sau giám định Phòng K Công an tỉnh B hoàn lại 01 (một) phong bì niêm phong vụ số 120 ngày 21 tháng 01 năm 2024, là tang vật vụ án.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG A12 màu đen, số IMEI1: 358334900545303; số IMEI2: 359755830545303 do bị cáo T sử dụng liên lạc mua ma túy.
[6] Các vấn đề khác: Đối với đối tượng tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) là người đưa ma túy cho T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với anh Lý Hùng T3 (sinh ngày 19-11-1962; trú tại số B đường T, Phường E, thành phố V) là chủ nhà nghỉ N. Khi cho T thuê phòng không biết T tàng trữ ma túy trong phòng nên không xem xét xử lý đối với anh T3.
[7] Về án phí: Bị cáo T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Bị cáo Lê Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Quốc T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14-01-2024.
-
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong vụ số 120 ngày 21 tháng 01 năm 2024.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG A12 màu đen, số IMEI1: 358334900545303; số IMEI2: 359755830545303 của bị cáo T.
- Vật chứng, tài sản nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 183/BB.CCTHADS ngày 07-5-2024.
- Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Phượng |
Bản án số 180/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 180/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Quốc Thiệu-Tàng trữ
