|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 180/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10/6/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nguyên
Bà Ngô Thị Thơm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 124/2024/HNGĐ-TLST ngày 19/3/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 138/2024/QĐ-ST ngày 22 tháng 5 năm 2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Trà G, sinh ngày 09/5/2002.
HKTT: Thôn Cổ Chẩm 2, xã Việt Hồng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
Hiện ở: Thôn Hải Thành, xã Cổ Thành, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.
2. Bị đơn: Anh Ngô Văn Đ, sinh ngày 08/11/1996.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Cổ Chẩm 2, xã Việt Hồng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
Hiện ở: Đài Loan.
( Chị G, anh Đ đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn chị Phạm Thị Trà G trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị G và anh Đ tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 27/12/2022. Vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được 3 tháng thì xảy ra mâu thuẫn. Thời điểm đó chị đang mang thai nên chị đã về nhà mẹ đẻ ở một thời gian, sau đó được gia đình hòa giải, động viên nên chị có về T ở và sinh con. Tuy nhiên tình cảm vợ chồng không được cải thiện nên sau khi sinh con được 1 tháng chị lại tiếp tục về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ đó cho đến nay. Trong suốt thời gian này anh Đ không quan tâm đến mẹ con chị. Thông qua gia đình chồng, chị mới biết anh Đ đã đi nước ngoài lao động. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ.
Về quan hệ con chung: Chị và anh Đ có 1 con chung là Ngô Đức A, sinh ngày 01/7/2023, hiện nay con đang ở với chị. Ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Đ không có, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Anh Ngô Văn Đ hiện nay đang lao động tại Đài Loan, do chị G không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Đ nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh Đ qua gia đình. Ông Ngô Văn C là bố đẻ của anh Đ xác định, anh Đ đi Đài Loan lao động từ năm 2022, từ khi đi anh Đ chưa về Việt Nam lần nào. Địa chỉ của anh Đ gia đình không biết, nhưng anh Đ thỉnh thoảng có liên lạc về cho gia đình. Ông C đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh Đ biết. Thông qua gia đình anh Đ thể hiện quan điểm: Vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nay chị G có đơn ly hôn anh đồng ý. Về con chung anh đồng ý để chị G nuôi con chung là Ngô Đức A. Về tài sản chung, nợ chung không có, ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Do điều kiện anh chưa thể về Việt Nam, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Anh ủy quyền cho bố đẻ là ông Ngô Văn C nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị G và anh Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị G được ly hôn anh Đ. Về con chung: Giao con chung Ngô Đức A, sinh ngày 01/7/2023 cho chị Phạm Thị Trà G nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị G không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Về án phí: Chị G phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Chị Phạm Thị Trà G, hiện đang sinh sống tại Thôn H, xã C, huyện H, tỉnh Quang Ninh. Anh Ngô Văn Đ có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại Thôn C, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương. Hiện anh Đ đang lao động tại Đài Loan. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Quá trình giải quyết vụ án, chị G không cung cấp được địa chỉ của anh Đ tại Đài Loan. Theo hướng dẫn tại công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh Đ cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình anh Đ được biết, anh Đ thường xuyên liên lạc với bố đẻ là ông Ngô Văn C. Ông C đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh Đ biết. Tòa án cũng đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Do vậy áp dụng công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Chị G, anh Đ đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Trà G và anh Ngô Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 27/12/2022, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Mặc dù đã được gia đình hai bên hòa giải, nhưng không có kết quả, vợ chồng thiếu sự quan tâm, tin tưởng lẫn nhau. Nay chị G xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh Đ. Quá trình giải quyết vụ án thông qua gia đình, anh Đ cũng có quan điểm xác định vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn và đồng ý ly hôn. Do vậy có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị G và anh Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị G.
- Về con chung: Chị Phạm Thị Trà G và anh Ngô Văn Đ có một con chung là Ngô Đức A, sinh ngày 01/7/2023, hiện con đang ở với chị G, ly hôn chị G có nguyện vọng được nuôi con. Thông qua gia đình anh Đ cũng có quan điểm đồng ý để chị G tiếp tục nuôi con. Xét thấy, hiện tại anh Đ đang ở nước ngoài, không có điều kiện trực tiếp nuôi con, cháu Đức A còn nhỏ cần sự quan tâm, chăm sóc của mẹ. Do vậy để bảo đảm điều kiện tốt nhất cho cháu Đức A, cần tiếp tục giao cháu Đức A cho chị G nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị G không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3].Về án phí: Chị Phạm Thị Trà G phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Trà G được ly hôn anh Ngô Văn Đ.
2. Về quan hệ con chung: Giao con Ngô Đức A, sinh ngày 01/7/2023 cho chị Phạm Thị Trà G chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị G không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi con.
Anh Ngô Văn Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Phạm Thị Trà G phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000520 ngày 19 tháng 3 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị G đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Trà G được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Anh Ngô Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 180/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 180/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
