Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 180/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 08-7-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thông

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tâm

Ông Ngô Kim Tuyến

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:

Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 163/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2024/QĐ-ST ngày 24/6/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995 (vắng mặt)

    Nơi thường trú: Thôn B, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

    Hiện đang lao động tại Nhật Bản.

    Chị H ủy quyền cho chị Lê Thị L, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giao và nhận các tài liệu, chứng cứ với Tòa án. (Văn bản ủy quyền ngày 24 tháng 5 năm 2024)

  2. Bị đơn: Anh Dương Văn T, sinh năm 1988 (vắng mặt)

    Nơi thường trú: Thôn B, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1964 (vắng mặt)

    Nơi thường trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai (có xác nhận của Đ tại Nhật Bản), nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Trước khi kết hôn chị, anh T được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 17/9/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, chị về nhà anh T làm dâu và chung sống hòa thuận với gia đình nhà chồng. Tuy nhiên, sau một thời gian thì vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống. Đến ngày 05/4/2022, do điều kiện kinh tế khó khăn nên chị đi lao động tại Nhật Bản. Khi mới sang Nhật Bản lao động, hai vợ chồng vẫn liên lạc hỏi thăm nhau, tuy nhiên đến tháng 9 năm 2022 thì mâu thuẫn trở nên trầm trọng. Chị và anh T đã nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Kể từ tháng 9 năm 2022 đến nay chị và anh T không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Dương Văn T.

Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là cháu Dương Thị Hải Y, sinh ngày 08/6/2015 và cháu Dương Trí D, sinh ngày 10/01/2017. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng anh T và ông bà nội. Sau khi ly hôn chị đề nghị giao cháu Dương Trí D cho anh T, giao cháu Dương Thị Hải Y cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Dương Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Quá trình tìm hiểu, tiến tới hôn nhân, quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng giống như chị Nguyễn Thị H đã trình bày. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là cháu Dương Thị Hải Y, sinh ngày 08/6/2015 và cháu Dương Trí D, sinh ngày 10/01/2017. Hiện nay cháu Dương Trí D đang sinh sống cùng anh. Cháu Dương Thị Hải Y đang sinh sống cùng chị H và ông bà ngoại. Sau khi ly hôn anh đề nghị giao cháu Dương Trí D cho anh, giao cháu Dương Thị Hải Y cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tạm giao cháu Y cho ông bà ngoại chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị H về nước sinh sống.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P trình bày:

Về hôn nhân của anh T, chị H: Quá trình tìm hiểu, tiến tới hôn nhân, quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng anh chị giống như chị Nguyễn Thị H đã trình bày.

Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là cháu Dương Thị Hải Y, sinh ngày 08/6/2015 và cháu Dương Trí D, sinh ngày 10/01/2017. Hiện nay cháu D đang sinh sống cùng anh T và ông bà nội. Ông đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Y cho chị H cho đến khi chị H về nước sinh sống. Ông xác định việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Y thời gian tới đây là quyền cũng như nghĩa vụ của ông, bà đối với cháu nên không yêu cầu anh T, chị H phải trích trả công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Y. Anh T, chị H vẫn cấp dưỡng hàng tháng để ông, bà chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Y.

Về tài sản, công nợ chung của anh T, chị H: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Cháu Dương Thị Hải Y trình bày: Cháu sinh sống cùng bố và ông bà nội từ khi sinh ra cho đến nay. Từ khi sinh ra đến nay cháu vẫn sinh sống ở Việt Nam. Trước khi mẹ cháu đi lao động tại Nhật Bản, cháu được mẹ chăm sóc chu đáo, cẩn thận, được đưa đi học và nấu cơm ăn đầy đủ. Sau khi mẹ đi nước ngoài lao động, mẹ thường xuyên gọi về hỏi thăm và động viên cháu học tập. Cháu có nguyện vọng ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn.

Cháu Dương Trí D trình bày: Cháu sinh sống cùng bố và ông bà nội từ khi sinh ra cho đến nay. Từ khi sinh ra đến nay cháu vẫn sinh sống ở Việt Nam. Trước khi mẹ cháu đi lao động tại Nhật Bản, cháu được mẹ chăm sóc chu đáo, cẩn thận, được đưa đi học và nấu cơm ăn đầy đủ. Sau khi mẹ đi làm ở nước ngoài cháu vẫn được bố và ông bà nội chăm sóc như lúc mẹ cháu ở nhà. Cháu có nguyện vọng ở với bố nếu bố mẹ ly hôn.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị H, anh Dương Văn T, ông Nguyễn Văn P vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Nguyễn Thị H; bản tự khai của anh Dương Văn T; bản tự khai của ông Nguyễn Văn P; biên bản ghi lời khai của cháu Dương Thị Hải Y và cháu Dương Trí D và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt nên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Dương Văn T.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Dương Trí D cho anh T; giao cháu Dương Thị Hải Y cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tạm giao cháu Y cho ông Nguyễn Văn P chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Y cho đến khi chị H về nước sinh sống.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản, công nợ chung: Chị H, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị H khởi kiện xin ly hôn anh T và đề nghị giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H hiện nay đang lao động tại Nhật Bản. Mặt khác, anh T là bị đơn hiện có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  3. Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Nguyễn Thị H, anh Dương Văn T, ông Nguyễn Văn P là đương sự trong vụ án có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị H, anh Dương Văn T, ông Nguyễn Văn P.
  4. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Dương Văn T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 17/9/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, chị H xác định tình

cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Dương Văn T.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H với anh Dương Văn T. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị H và anh T chung sống với nhau hòa thuận. Tuy nhiên, sau một thời gian thì vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Kể từ tháng 9 năm 2022 đến nay chị H và anh T không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn anh T. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng anh T, chị H không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H với anh T, xử cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp Điều 51, 53 56 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

  1. Về nuôi con chung: Chị H, anh T có 02 con chung là cháu Dương Thị Hải Y, sinh ngày 08/6/2015 và cháu Dương Trí D, sinh ngày 10/01/2017. Hiện nay các cháu đang sinh sống cùng anh T và ông bà nội. Sau khi ly hôn chị H đề nghị giao cháu Dương Trí D cho anh T, giao cháu Dương Thị Hải Y cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Xét yêu cầu nuôi con chung của chị H: Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi ly hôn chị H, anh T đều thống nhất giao cháu D cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Y cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông P đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Y cho chị H cho đến khi chị H về nước sinh sống. Ngoài ra, cháu D trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với bố, cháu Y trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy giao cháu D cho anh T; giao cháu Y cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tạm giao cháu Y cho ông P chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị H về nước sinh sống là phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp Điều 81, 82, 83, 104 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị H, anh Dương Văn T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị H, anh T thực hiện quyền này.

Trường hợp chị Nguyễn Thị H về nước sinh sống, có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

  1. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị H, anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  1. Về tài sản, công nợ chung: Do chị H, anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
  3. Về quyền kháng cáo:
    • [9.1] Chị Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
    • [9.2] Anh Dương Văn T, ông Nguyễn Văn P vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

  1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Dương Văn T.
  2. Về con chung: Giao cháu cháu Dương Trí D, sinh ngày 10/01/2017 cho anh Dương Văn T; giao cháu Dương Thị Hải Y, sinh ngày 08/6/2015 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, nhưng tạm giao cho ông Nguyễn Văn P chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi chị H về nước sinh sống.

    Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị H, anh Dương Văn T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm

ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001318 ngày 19/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Anh Dương Văn T, ông Nguyễn Văn P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND xã Tiến Dũng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang;
  • -Cổng thông tin điện tử;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trung Thông

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 180/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị H, anh T ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger