Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số 180/2024/HS-ST

Ngày 06/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ-THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hồng Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Đạt

Bà Trương Thị Thái – Giáo viên đã nghỉ hưu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 152/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 08 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 50/2024/HSST-QĐ ngày 20/8/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Đức Đ, sinh năm 2004; Tên gọi khác: Không; ĐKHKTT: Cụm 2, thôn Q, xã V, huyện T, TP Hà Nội; Giới tính; Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Nguyễn Đức C, sinh năm 1982; Họ và tên mẹ: Trương Thị H, sinh năm: 1981; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Theo danh chỉ bản số 337 lập ngày 09/5/2024 của Công an huyện T, TP Hà Nội về tiền án: 01 tiền sự
    • - Ngày 20/05/2024, bị Công an huyện T, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác.

    Nhân thân:

    • - Ngày 28/11/2019, bị Công an huyện T, Thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Xâm hại sức khỏe của người khác.

    Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 09/05/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. Nguyễn Đức A, sinh ngày 11/7/2007; Tên gọi khác: Không; ĐKHKTT: Cụm 2, thôn Q, xã V, huyện T, TP Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Nguyễn Đức C, sinh năm 1982; Họ và tên mẹ: Trương Thị H, sinh năm: 1981; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Theo danh chỉ bản số 339 lập ngày 17/5/2024 của Công an huyện T, TP Hà Nội về tiền án: 02 tiền sự
    • - Ngày 23/05/2023, bị Công an huyện T, Thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”
    • - Ngày 20/05/2024, bị Công an huyện T, Thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác”.

    Bị cáo đầu thú và bị bắt tạm giam từ ngày 09/05/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

    Người đại diện theo chỉ định cho bị cáo: UBND xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội. Đại diện ông Đỗ Đăng N –Phó chủ tịch UBND xã V.

    (Ông N có đơn xin xét xử vắng mặt)

    Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị L – Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước Thành phố Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa)

  3. Hoàng L1, sinh năm 2004; Tên gọi khác: Không; ĐKHKTT: Cụm 13, thôn V, xã V, huyện T, TP Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Hoàng Hữu L2, sinh năm 1958; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thu H1, sinh năm: 1970; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Theo danh chỉ bản số 455 lập ngày 28/6/2024 của Công an huyện T, TP Hà Nội về tiền án: Không
  4. Áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/6/2024. “Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa”

- Bị đơn:

  • +) Đối với tội “Trộm cắp tài sản” Anh Nguyễn Quang A1, sinh năm 1988 HKTT: phường K, quận T, Hà Nội. (Có đơn xin vắng mặt)
  • +) Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”: Anh Vũ Đình H2, sinh năm 2006; HKTT: Cụm 4, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội. (Có đơn xin vắng mặt)

- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

Bưu cục HN04 quận H- Chi nhánh B – Tổng Công ty Cổ phần B1.

Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Quang A1, sinh năm 1988; HKTT: HKTT: phường K, quận T, Hà Nội. (Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân không có công ăn việc làm ổn định, không có tiền tiêu sài nên Nguyễn Đức Đ đã nảy sinh ý định mượn xe mô tô của người khác rồi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sáng ngày 16/12/2023, Đ rủ anh Trần Bá Đ1 (sinh năm: 2004, địa chỉ: Cụm 7, thôn V, xã V, huyện T, Hà Nội) sang nhà Đ chơi. Sau đó, Đ mượn điện thoại của anh Đ1 gọi anh Vũ Đình H2 (sinh năm: 2006, trú tại: Cụm 4, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội) đến nhà Đ chơi. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, anh H2 đi xe mô tô Honda Wave Alpha không đeo BKS của anh H2 đến nhà Đ (chiếc xe có BKS 29M1 – 908.70 nhưng anh H2 đã làm mất). Sau khi nói chuyện khoảng 5 phút, Đ giả vờ đi ra ngoài có việc nên mượn xe của anh H2, anh H2 đồng ý và đưa chìa khóa xe cho Đ. Anh Đ1 và anh H2 vẫn ở nhà Đ chơi nói chuyện chờ Đ về. Sau khi mượn được xe mô tô của anh H2, Đ điều khiển xe đến quán I ở thị trấn V, huyện T, Hà Nội, gặp Nguyễn Đức A là em trai của Đ, rủ Đức A đi bán chiếc xe để lấy tiền tiêu sài, Đức A đồng ý. Đức A biết chiếc xe mô tô trên là do Đ phạm tội mà có nhưng vẫn cùng với Đ lên Facebook tìm người để tiêu thụ chiếc xe. Đ tìm được một tài khoản Facebook tên “G” đang cần mua xe nên đã liên hệ và trao đổi có xe muốn bán. Do không có điện thoại nên Đức A bảo Đ nhắn tin cho Hoàng L1 rủ đến quán rồi cùng đi bán xe. Khoảng 12 giờ cùng ngày, L1 điều khiển xe mô tô BKS: 29AA – 143.57 đến quán Internet. Khi L1 đến, Đ mượn điện thoại của L1 rồi gọi cho người mua xe và hẹn đến khu vực Bảo tàng H, đường Đ, quận N, Hà Nội để giao dịch mua bán xe. Đ rủ L1 đi cùng và L1 đồng ý. Khi ra lấy xe, L1 thấy Đ đi 01 xe Honda Wave không đeo BKS màu đen bạc. L1 hỏi Đ chiếc xe mô tô trên là của ai. Đ nói xe mô tô của anh H2. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô của anh H2 chở Đức A, L1 điều khiển xe mô tô của L1 đi theo Đ. Trên đường đi, L1 hỏi Đ đi đâu thì Đ bảo đi bán xe của anh H2 và hỏi L1 có đi không. Lúc này, L1 biết Đ đã chiếm đoạt xe máy của anh H2 và đang mang đi bán nhưng vẫn đồng ý đi cùng Đ. Khi đi đến khu vực C1 tại đường N, phường M, quận N, Hà Nội, Đ và L1 dựng xe ở vỉa hè cạnh cây xăng. Đ mượn điện thoại của L1 để liên lạc với người mua xe. L1 đồng ý và đưa điện thoại cho Đ. Một lúc sau, một người đàn ông lạ mặt, đeo khẩu trang đi xe mô tô đến chỗ của Đ, Đức A và L1 để hỏi mua xe. Đ và người đàn ông thỏa thuận mua bán chiếc xe của anh H2 với giá 4.000.000 đồng. Sau khi Đ cầm tiền thì lấy ra đưa cho L1 50.000 đồng bảo L1 đổ xăng cho xe mô tô của L1. Sau khi đổ xăng, L1 chở Đ và Đức A ngồi sau đi về, cùng ăn uống bằng số tiền vừa bán xe rồi quay lại quán Internet ở thị trấn V. Đ không chia tiền bán xe cho L1 và Đức A mà chỉ cho L1 và Đức A ăn uống và trả tiền chơi internet cho L1, Đức A. Anh H2 ở nhà Đ chờ Đ nhưng không thấy Đ quay về trả xe nên anh H2 đã đi bộ về nhà. Đến ngày 02/01/2024, không thấy Đ mang xe về trả nên anh H2 đã đến Công an xã V trình báo sự việc.

Ngày 06/05/2024, khi đang ngồi ở quán Internet ở phường Đ, quận H, Hà Nội, Đ và Đức A mượn xe của bạn ở quán Internet để đi ăn sáng. Khi đi đến khu vực phường M, quận H, Hà Nội, Đ và Đức A thấy anh Nguyễn Quang A1 (sinh năm: 1988; địa chỉ: phường K, quận T, Hà Nội) là nhân viên giao hàng của Tổng Công ty Cổ phần B1 (V) đang dựng 01 xe mô tô Honda Wave, BKS: 29G1 – 967.55, trên xe có 01 thùng hàng bên trong có 75 gói hàng hóa anh Quang A1 nhận của Công ty V ở trước khu vực ngách 29B, ngõ 19, phường M, quận H, Hà Nội để đi bộ vào trong ngách giao hàng và chìa khóa vẫn cắm ở xe. Lúc này, quan sát thấy xung quanh không có ai, Đ bảo Đức A xuống lấy chiếc xe mô tô của anh Quang A1 mang đi bán lấy tiền tiêu sài. Đức A đồng ý và đi đến chiếc xe, mở khóa xe và đề ga, điều khiển xe đi đến Hồ Linh Đ2 thì Đ và Đức A xuống xe, tháo thùng hàng trên xe và biển kiểm soát của chiếc xe và vứt ở gầm cầu Linh Đàm . Sau đó, Đ và Đức A quay về quán Internet trả xe cho bạn, còn chiếc xe vừa trộm cắp được Đ và Đức A dùng để đi lại hàng ngày.

Sau khi anh Quang A1 giao hàng cho khách xong và đi ra ngoài để lấy xe thì phát hiện chiếc xe mô tô của anh Quang A1 và thùng hàng hóa trên xe đã bị trộm cắp nên ngày 08/05/2024, anh Nguyễn Quang A1 đến Công an huyện T trình báo về sự việc trên. Anh Quang A1 trình bày trong thùng hàng hóa có 75 gói hàng hóa với tổng giá trị 23.179.300 đồng nhận của Công ty V chưa kịp giao cho khách (có danh sách kèm theo).

Ngày 08/05/2024, Nguyễn Đức A đến Công an xã V, Công an huyện T đầu thú. Công an xã V đã thu giữ của Nguyễn Đức A 01 xe mô tô Honda Wave, không đeo biển kiểm soát có số khung: RLHJA3921LY091065; số máy: JA39E2095407; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy đề tên Nguyễn Quang A1.

Tiến hành dẫn giải đối với Nguyễn Đức Đ và Nguyễn Đức A, kết quả: Đ chỉ được vị trí lấy xe mô tô của anh H2 ở xóm G, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội; Đ và Đức A chỉ được vị trí bán xe của anh H2 tại vỉa hè cạnh cây xăng C1 trên đường N, phường M, quận N, Hà Nội; vị trí ăn trộm chiếc xe mô tô BKS 29G1 – 967.55 tại trước cửa nhà số 21 C22 ngách 29B ngõ 19 phường M, quận H, Hà Nội; Đ và Đức A chỉ được vị trí Đ và Đức A vứt thùng hàng trên xe và biển kiểm soát xe của anh Quang A1 ở dưới chân cầu vượt H, phường Đ, quận H, Hà Nội.

Tại chân cầu vượt hồ L, cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã thu giữ được 01 vỏ gối đã qua sử dụng; 01 cuốn sách; 02 túi bóng màu hồng có mã 1729405177071 và 1748636528039 của Viettel Post.

Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã tiến hành rà soát và truy tìm chiếc xe moto Honda, kiểu dáng Wave, màu đen bạc, BKS: 29M1 – 908.70 của anh H2 nhưng chưa thu giữ được.

Ngày 26/01/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T có công văn số 640 yêu cầu định giá tài sản đối với 01 xe máy Honda, kiểu dáng Wave, màu đen bạc, BKS: 29M1 – 908.70, số khung: RLHJA3924NY145445, số máy: JA39E2642373.

Tại Kết luận định giá tài sản số 17 ngày 29/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS – UBND huyện T đã kết luận:

01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 29M1 – 908.70 đã qua sử dụng có giá trị 17.414.000 đồng.

Ngày 09/05/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T có công văn số 2668 yêu cầu định giá tài sản đối với 01 xe máy Honda, kiểu dáng Wave, màu đen bạc, BKS: 29G1–967.55, số khung: RLHJA3921LY1091065, số máy: JA39E2095407.

Tại Kết luận định giá tài sản số 64 ngày 13/05/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS – UBND huyện T đã kết luận:

01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 29G1 – 967.55 đã qua sử dụng có giá trị 14.107.500 đồng.

Ngày 18/06/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T có Công văn số 3791 yêu cầu định giá tài sản đối với 01 thùng nhựa bên trong có 75 gói hàng, bên ngoài các gói hàng đều được bọc nilon màu hồng nhạt và có dán Phiếu gửi của Viettel P do anh Nguyễn Quang A1 nhận từ kho hàng khu vực phường M, quận H, Hà Nội.

Tại Kết luận định giá tài sản số 91 ngày 27/06/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội đã kết luận:

75 Gói hàng bên ngoài bọc nilon màu hồng nhạt, có dán Phiếu gửi của Viettel P có giá trị 23.179.300 đồng

Tổng giá trị tài sản Đ và Đức A đã trộm cắp là 37.286.800 đồng.

Ngày 29/05/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định số 2201 đối với số khung, số máy của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc không đeo biển kiểm soát.

Tại Kết luận giám định số 4382 ngày 19/06/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội đã kết luận:

Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không đeo Biển kiểm sát; Số khung: RLHJA3921LY091065 và số máy: JA39E – 2095407 là số nguyên thủy.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận như nội dung cáo trạng đã nêu: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 16/12/2023, Nguyễn Đức Đ rủ anh Vũ Đình H2 đến nhà của Đ chơi sau đó lừa đảo chiếm đoạt 01 xe mô tô Honda Wave A không đeo BKS có giá trị 17.414.000 đồng của anh H2, điều khiển xe đến quán I ở thị trấn V, huyện T, Hà Nội, rủ Nguyễn Đức A và Hoàng L1 đi bán chiếc xe của anh H2 để lấy tiền tiêu xài. Mặc dù biết chiếc xe trên là do phạm tội mà có nhưng Đức A và L1 vẫn đồng ý đi bán xe cùng với Đ. Sau đó, Đ, Đức A và L1 đi đến khu vực C1 tại đường N, phường M, quận N, Hà Nội để bán chiếc xe mô tô của anh H2 cho một người đàn ông lạ mặt với giá 4.000.000 đồng. Đ, Đức A và L1 cùng nhau ăn tiêu và chơi tại quán Internet bằng số tiền trên.

Ngày 06/05/2024, Đ và Đức A đi qua ngách 29B, ngõ 19 phường M, quận H, Hà Nội thì thấy 01 xe mô tô Honda Wave Alpha, BKS: 29G1 – 967.55 của anh Nguyễn Quang A1 là nhân viên giao hàng của Công ty V, trên xe có 01 thùng hàng bên trong chứa 75 đơn hàng đang dựng trước ngách nên đã trộm cắp chiếc xe trên cùng với thùng hàng ở trên xe. Theo Kết luận định giá tài sản đã kết luận tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 37.286.800 đồng.

Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt có ý kiến trình bày: Anh H2 yêu cầu bị cáo Đ phải trả lại xe mô tô cho anh H2 hoặc bồi thường cho anh H2 số tiền với giá trị tương đương; anh Nguyễn Quang A1 yêu cầu Đ bồi thường theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Có văn bản ý kiến đã giải quyết xong về trách nhiệm bồi thường đối với anh Quang A1, và ủy quyền cho anh Quang A1 tham gia tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, luận tội giữ nguyên nội dung bản cáo trạng số 150/CT-VKSTT ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố các bị cáo cụ thể:

  • - Nguyễn Đức Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
  • - Nguyễn Đức A về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
  • - Hoàng L1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 174, khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt Nguyễn Đức Đ từ 14 đến 16 Tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và từ 20 tháng tù đến 22 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt là từ 34 tháng tù đến 38 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 323, khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều, 51, Điều 17, Điều 55, Điều 98, Điều 101, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt Nguyễn Đức A từ 14 đến 16 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt là từ 24 tháng tù đến 28 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt Hoàng L1 từ 12 đến 14 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có việc làm, không có thu nhập nên không áp dụng.

Về xử lý vật chứng:

Đối với anh Trần Bá Đ1, anh Đ1 trình bày khi Đ điều khiển xe mô tô của anh H2 đi, anh Đ1 và anh H2 ngồi ở nhà Đ chờ Đ quay lại. Một lúc sau, không thấy Đ quay lại nên anh Đ1 đi về. Anh Đ1 không biết về hành vi phạm tội của Đ nên đề nghị không xử lý.

Đối với người đàn ông mua xe mô tô có Facebook tên “Gia Lâm”, do Đ, Đức A và L1 khai không biết tên tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của những người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.

Đối với 01 xe mô tô Honda Wave, màu đen bạc, BKS: 29G1 – 967.55, số khung: RLHJA3921LY1091065, số máy: JA39E2095407; 01 đăng ký xe máy mang tên Nguyễn Quang A1; 02 túi nilon màu hồng đã rách; 01 túi vải kiểu vỏ gối; 01 cuốn sách là tài sản của anh Nguyễn Quang A1 nên ngày 28/06/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã trả lại cho anh Quang A1. Anh Quang A1 nhận lại tài sản và không có ý kiến, đề nghị gì.

Đối với chiếc điện thoại của Hoàng L1 đưa cho Đ để liên lạc với người đàn ông mua chiếc xe mô tô của anh H2, do L1 khai đã làm mất chiếc điện thoại trên nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Về dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, đề nghị HĐXX buộc Nguyễn Đức Đ phải bồi thường cho anh H2 số tiền xe mô tô với giá trị 17.414.000 đồng; Buộc Đ bồi thường cho anh Nguyễn Quang A1 75 gói hàng bằng tiền theo giá trị của Hội đồng định giá là 23.179.300 đồng.

Đối với hành vi ngày 29/12/2023 của Đ và Đức A lừa để bán chiếc xe máy Daehankikd BKS 29A-134.57 của L1. Cơ quan điều tra đã trưng cầu định giá xác định chiếc xe có giá trị dưới hai triệu đồng. Ngày 23/05/2023 Đức A đã bị Công an huyện T, Thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 29/12/2023 Đức A phạm tội đã hết thời hạn 6 tháng theo quy định tại Khoản 1 Điều 137 Luật xử lý vi phạm hành chính nên không tính là tiền sự. Do đó cơ quan điều tra công an huyện T đã ra quyết định ngày 20/05/2024, xử phạt vi phạm hành chính Đ và Đức A về hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác” là có căn cứ.

Người bào chữa trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức A trình bày: Xác nhận nội dung cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người đúng tội. Tuy nhiên, đề nghị HĐXX khi xét xử xem xét cho bị cáo khi phạm tội và đến nay là người chưa thành niên, bỏ học từ sớm, gia đình bị cáo đều gặp hoàn cảnh khó khăn, éo le, bố bị cáo đang bị đi cai nghiên, mẹ và chị gái bỏ đi khi bị cáo còn nhỏ, bị cáo ở với anh, anh cũng phạm tội cùng bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm khoản 2 Điều 51 BLHS và các Điều luật liên quan đến người chưa thanh niên phạm tội để xử bị cáo thấp dưới mức đề nghị của VKS.

Nói lời sau cùng các bị cáo nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội. Các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo trình tự thủ tục tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Ngoài ra, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì khác về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về các hành vi phạm tội: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 16/12/2023, Nguyễn Đức Đ rủ anh Vũ Đình H2 đến nhà của Đ chơi sau đó lừa đảo chiếm đoạt 01 xe mô tô Honda Wave A không đeo BKS có giá trị 17.414.000 đồng của anh H2, điều khiển xe đến quán I ở thị trấn V, huyện T, Hà Nội, rủ Nguyễn Đức A và Hoàng L1 đi bán chiếc xe của anh H2 để lấy tiền tiêu xài. Mặc dù biết chiếc xe trên là do phạm tội mà có nhưng Đức A và L1 vẫn đồng ý đi bán xe cùng với Đ. Sau đó, Đ, Đức A và L1 đi đến khu vực C1 tại đường N, phường M, quận N, Hà Nội để bán chiếc xe mô tô của anh H2 cho một người đàn ông lạ mặt với giá 4.000.000 đồng. Đ, Đức A và L1 cùng nhau ăn tiêu và chơi tại quán Internet bằng số tiền trên.

Ngày 06/05/2024, Đ và Đức A đi qua ngách 29B, ngõ 19 phường M, quận H, Hà Nội thì thấy 01 xe mô tô Honda Wave Alpha, BKS: 29G1 – 967.55 của anh Nguyễn Quang A1 là nhân viên giao hàng của Công ty V, trên xe có 01 thùng hàng bên trong chứa 75 đơn hàng đang dựng trước ngách nên đã trộm cắp chiếc xe trên cùng với thùng hàng ở trên xe. Theo Kết luận định giá tài sản đã kết luận tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 37.286.800 đồng.

Với các hành vi trên của các bị cáo HĐXX đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Đức Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Đức A phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Hoàng L1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố các bị cáo về các tội danh nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Xét tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, bị cáo Đ có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có trị giá 17.414.000 đồng, hành vi “Trộm cắp tài sản” có giá trị 37.286.800 đồng. Hành vi của Đức A “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và đồng phạm với Đ trong hành vi “Trộm cắp tài sản”. Hành vi của L1 đồng phạm với Đức A trong tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Các bị cáo trong một thời gian ngắn, liên tiếp thực hiện nhiều hành vi phạm tội liên quan đến quyền sở hữu tài sản. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã cố ý xâm phạm quyền sở hữu công dân được được Bộ luật Hình sự bảo vệ.

Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xử nghiêm các bị cáo trong khung hình phạt, cách ly bị cáo Đ và Đức A ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên có căn cứ cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Đức A là người chưa thanh niên phạm tội, gia đình trong điều kiệu éo le không ai chăm sóc; sau khi phạm tội bị cáo Đức A đã ra đầu thú nên HĐXX cho Đức A hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Điều Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo L1 bản thân được nhận giấy khen của Chủ tịch UBND huyện T. Bố đẻ bị của L1 là ông L2 là người có công với đất nước được nhận Huy chương chiến sỹ vẻ hang hạng nhất. Bị cáo L1 phạm tội lần này thuộc trường hợp phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do đó cho bị cáo hưởng thêm các tình tiết quy định tại điểm i khoản 1 điều 51 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Đức A và bị cáo L1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Đ có hành vi lôi kéo bị cáo Đức A là người chưa thành niên phạm tội nên HĐXX áp dụng tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự tại điểm o khoản 1 Điều 52 BLHS đối với Đ.

Về nhân thân bị cáo Đ và Đức A: Đ và Đức A ít tuổi nhưng liên tiếp có các hành vi xâm phạm đến quyền sử hữu tài sản của người khác. Tuy có tiền sự đã được xóa nhưng cho thấy các bị cáo có nhân thân xấu.

Đại diện VKS đề nghị hình phạt tù đối với bị cáo Đ, Đức A là có căn cứ, phù hợp với nhận định của HĐXX. Còn đề nghị của VKS đối với hình phạt của L1 chưa phù hợp với nhận định của HĐXX.

[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Đại diện VKS đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với anh Trần Bá Đ1, anh Đ1 trình bày khi Đ điều khiển xe mô tô của anh H2 đi, anh Đ1 và anh H2 ngồi ở nhà Đ chờ Đ quay lại. Một lúc sau, không thấy Đ quay lại nên anh Đ1 đi về. Anh Đ1 không biết về hành vi phạm tội của Đ nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Đối với người đàn ông mua xe mô tô có Facebook tên “Gia Lâm”, do Đ, Đức A và L1 khai không biết tên tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của những người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với 01 xe mô tô Honda Wave, màu đen bạc, BKS: 29G1 – 967.55, số khung: RLHJA3921LY1091065, số máy: JA39E2095407; 01 đăng ký xe máy mang tên Nguyễn Quang A1; 02 túi nilon màu hồng đã rách; 01 túi vải kiểu vỏ gối; 01 cuốn sách là tài sản của anh Nguyễn Quang A1 nên ngày 28/06/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã trả lại cho anh Quang A1. Anh Quang A1 nhận lại tài sản và không có ý kiến, đề nghị gì về chiếc xe máy.

Đối với chiếc điện thoại của Hoàng L1 đưa cho Đ để liên lạc với người đàn ông mua chiếc xe mô tô của anh H2, do L1 khai đã làm mất chiếc điện thoại trên nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

[6] Về trách nhiệm dân sự. Căn cứ Điều 584, 585, 589 Bộ luật Luật dân sự. Căn cứ điều 48 Bộ luật hình sự.

  • - Bị cáo Đ lừa bán chiếc xe mô tô của anh H2, hiện nay không thu hồi được. Do đó buộc đạt phải bồi thường anh H2 giá trị chiếc xe mô tô bằng tiền theo giá trị hội đồng định giá là 17.414.000 đồng.
  • - Bị cáo Đ trộm cắp 01 thùng nhựa có 75 gói hàng của anh Nguyễn Quang A1, các gói hàng không thu hồi được. Do đó buộc Đ phải bồi thường anh Quang A1 giá trị của 75 gói hàng bằng tiền theo giá trị của Hội đồng định giá là 23.179.300 đồng.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo Đ, Đức A, L1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Đ phải chịu án phí dân sự trong vụ án hình sự là 2.030.000 đồng

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

Vì các lẽ trên;

Tuyên bố.

  • - Bị cáo Nguyễn Đức Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • - Bị cáo Nguyễn Đức A phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Bị cáo Hoàng L1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

1. Về hình phạt chính.

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 174, khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Đ 16 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành tù tính từ ngày bắt ngày 09/5/2024.

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 323, khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; 101; 103; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức A 10 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt là 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành tù tính từ ngày bắt ngày 09/5/2024.

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 323 điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015. Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Hoàng L1 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Hoàng L1 cho UBND xã V, huyện T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về hình phạt bổ sung:

Không áp dụng đối với các bị cáo

3. Về dân sự.

Căn cứ Điều 584, 585, 589 Bộ luật Luật dân sự. Căn cứ điều 48 Bộ luật hình sự.

Buộc bị cáo Đ phải bồi thường cho anh H2 giá trị chiếc xe mô tô bằng tiền là 17.414.000 đồng và phải bồi thường anh Quang A1 giá trị 75 gói hàng bằng tiền là 23.179.300 đồng.

4. Về án phí và Quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015;

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đ, Đức A, L1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Đ phải chịu 2.030.000 đồng án phí dân sự trong vụ án hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Nơi nhận

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - Chi cục Thi hành án DS huyện Thanh Trì;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ
  • - Lưu VP/TA

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Dương Hồng Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự sơ thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 180/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Trộm cắp tài sản, Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger