TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 180/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 04/6/2024. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
V/v: “Tranh chấp ly hôn, con chung”. | |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Huỳnh Thị Kim Kiên - Cán bộ Hội Phụ nữ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai;
- Ông Trần Công Danh - Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Trương Tùng Sơn - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 2991/2023/TLST-HNGĐ ngày 22/12/2023 về tranh chấp “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 181/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị T, sinh năm 1991;
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1987;
Cùng địa chỉ: Nhà không số, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông H vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt ngày 26/4/2024, nguyên đơn bà Bùi Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông H kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai vào ngày 08/4/2011. Trong thời gian đầu chung sống có hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn và thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống, đã nhiều cả hai đã cố gắng khắc phục để tiếp tục cuộc sống vợ chồng nhưng không có kết quả. Xét thấy đến nay tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không đạt được nên bà làm đơn xin được ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà T xác định có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn H1, sinh ngày 11/01/2012 và cháu Nguyễn Thanh A, sinh ngày 28/6/2021. Ly hôn, bà đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu và tạm thời không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Do bận công việc nên bà đề nghị vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được tống đạt giấy triệu tập và các văn bản theo trình tự tố tụng hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc, tham gia tố tụng cũng như xét xử nên không có lời khai, văn bản trình bày ý kiến về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, ngoài các chứng cứ các đương sự đã cung cấp từ khi thụ lý, nguyên đơn, bị đơn không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đã thực hiện đúng theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; Xác định quan hệ pháp luật, tư cách của đương sự và thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật.
+ Về việc giải quyết vụ án: Từ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông H, giao cả hai con chung cho bà T nuôi dưỡng, không xem xét việc cấp dưỡng vì đương sự không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tố tụng:
- Về tư cách tố tụng và quan hệ tranh chấp:
Bà Bùi Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn H. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định bà T là nguyên đơn, ông H là bị đơn. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn, con chung”.
- Về thẩm quyền giải quyết: Qua xác minh tại địa phương, ông Nguyễn Văn H có đăng ký thường trú tại địa chỉ: Nhà không số, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về thủ tục tố tụng khác: Bà Bùi Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận, còn bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Bà Bùi Thị T và ông Nguyễn Văn H chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 66 ngày 08/4/2011. Đối chiếu quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định hôn nhân của bà T và ông H là hợp pháp.
Bà T khai sau quá trình chung sống ban đầu thì hai bên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Đến nay tình cảm vợ chồng đã không còn, không còn quan tâm đến nhau.
Xét thấy: Tại biên bản xác minh ngày 11 tháng 01 năm 2024, Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai xác định không có biết mâu thuẫn của bà T và ông H vì các đương sự không trình báo, không yêu cầu hòa giải. Quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện việc Thông báo tìm kiếm người vắng mặt trên phương tiện thông tin đại chúng, tống đạt giấy triệu tập và các văn bản tố tụng theo quy định cho ông H nhưng ông H không đến làm việc, tham gia tố tụng cũng như tham gia phiên tòa xét xử. Điều này chứng tỏ ông H đã không còn thiết tha, không còn quan tâm và mặc kệ quan hệ hôn nhân với bà T. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà T và ông H là có thật, trầm trọng, cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, bà T được ly hôn ông H là phù hợp.
Về con chung: Bà T xác định có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn H1, sinh ngày 11/01/2012 và cháu Nguyễn Thanh A, sinh ngày 28/6/2021. Ly hôn, bà đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu và tạm thời không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, hiện nay cháu H1 và cháu A từ nhỏ đã sinh sống cùng mẹ, bà T có công việc, thu nhập ổn định, đủ khả năng nuôi cả hai cháu. Vì vậy, để tránh ảnh hưởng, xáo trộn đến cuộc sống, tâm sinh lý, sinh hoạt hằng ngày và học tập của hai cháu nên Hội đồng xét xử giao con chung là cháu H1 và cháu A cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp. Đối với việc cấp dưỡng nuôi con chung, bà T không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nên ghi nhận, tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà T xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà T xác định không có nên không yêu cầu xem xét, giải quyết.
Ông H không có lời khai, văn bản trình bày ý kiến nên không đủ cơ sở xác định đối với phần tài sản chung, nợ chung. Vì vậy, đối với phần tài sản chung, nợ chung tách ra giải quyết bằng vụ việc khác khi các đương sự có yêu cầu giải quyết theo quy định.
[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Nguyên đơn bà Bùi Thị T phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39, khoản 4 Điều 147, 227, 228, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị T đối với ông Nguyễn Văn H.
Cho bà Bùi Thị T được ly hôn ông Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Văn H1, sinh ngày 11/01/2012 và cháu Nguyễn Thanh A, sinh ngày 28/6/2021 cho bà Bùi Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, ông H vẫn phải có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Ông H có quyền thăm nom các con chung; không ai được cản trở thực hiện quyền này. Vì lợi ích của các con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nên không xem xét, giải quyết.
- Đồng thời, ông H vắng mặt không có lời khai nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bà Bùi Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001836 ngày 21/12/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Bà T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bà Bùi Thị T, ông Nguyễn Văn H được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Thị Hòa |
Bản án số 180/2024/HNGĐ-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 180/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
