|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 180/2025/KDTM-PT
Ngày: 13/6/2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Đoan Trang
Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Quỳnh Trâm
Bà Phùng Thị Như Mai
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Kim Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Tuyến – Kiểm sát viên.
Vào các ngày 06/6/2025 và 13/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 129/2025/TLPT-KDTM ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do bản án sơ thẩm số 17/2025/KDTM-ST ngày 05 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2560/2025/QĐPT-KDTM ngày 12 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 7454/2025/QĐ-HPT ngày 30/5/2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 7455/2025/QĐ-PT ngày 06/6/2025, giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q
Trụ sở: A L, phường T, quận C, TP Hà Nội
Địa chỉ liên lạc: Lầu E, số E C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Văn S – sinh năm 1988
(Văn bản ủy quyền: Số 1230/UQ-MBAMC ngày 30/5/2025).
Bị đơn: Ông Nguyễn Nhử T, sinh năm 1995
Địa chỉ: 3 Hồ N, Phường A, quận T, TP H
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Nhử T.
(Nguyên đơn và bị đơn có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của bản án sơ thẩm như sau:
Ông Nguyễn Nhử T đã vay vốn tại Ngân hàng TMCP Q (gọi tắt là M) theo Hợp đồng cấp tín dụng số 223067.21.702.5977902.TD ngày 08/12/2021 và được giải ngân theo Văn bản nhận nợ số LD2315848103 ngày 07/6/2023, cụ thể:
Số tiền vay: 2.500.000.000 đồng.
Thời hạn vay: 09 tháng, từ ngày 07/6/2023 đến ngày 07/3/2024.
Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh quần Jean của khách hàng.
Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân 9.9% năm. Lãi suất được tính theo năm với 01 năm là 365 ngày.
Để bảo đảm cho khoản vay trên, ông Nguyễn Nhử T đã thế chấp:
Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là nhà ở của bên thế chấp tại thửa số 24, tờ bản đồ số 19 (BĐĐC-2005), địa chỉ: 3 Hồ N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số CC 917488, số vào sổ cấp GCN: CH04394 do UBND quận T cấp ngày 20/5/2016, theo Hợp đồng thế chấp số: 71587.20.702.5977902.BĐ ngày 11/6/2020 tại Văn phòng C, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 12/6/2020 theo đúng quy định.
Hiện nay, các tài sản bảo đảm do khách hàng quản lý và sử dụng, M chỉ quản lý giấy tờ tài sản bảo đảm.
Trong quá trình sử dụng vốn vay, ông Nguyễn Nhử T đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ và toàn bộ khoản vay đã chuyển thành nợ quá hạn kể từ ngày 08/3/2024.
Tạm tính đến ngày 05/02/2025, ông Nguyễn Nhử T còn nợ M số tiền:
Nợ gốc: 2.499.901.270 đồng
Nợ lãi trong hạn: 5.479.452 đồng
Nợ lãi quá hạn: 275.331.592 đồng
Tổng cộng: 2.780.712.314 đồng
M đã nhiều lần liên hệ và làm việc với ông Nguyễn Nhử T để yêu cầu hoàn trả nợ vay nhưng ông Nguyễn Nhử T cố tình kéo dài thời gian nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho M. Vì vậy, kính đề nghị Quý Tòa xem xét và phán quyết buộc:
- Buộc ông Nguyễn Nhử T phải trả ngay một lần cho M tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến hết ngày 05/02/2025 là 2.780.712.314 đồng.
- Buộc ông Nguyễn Nhử T còn phải tiếp tục trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cấp tín dụng, các Khế ước nhận nợ từ ngày 06/02/2025 cho đến ngày trả hết nợ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Nguyễn Nhử T không thanh toán toàn bộ khoản nợ thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho ngân hàng. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có diện tích 30,3 m² thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ số 19 (BĐĐC-2005); địa chỉ: 3 Hồ N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC 917488, số vào sổ cấp GCN: CH04394; tài sản gắn liền với đất là Nhà ở, loại nhà ở: Nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng: 29,5 m², diện tích sàn: 85,5 m², hình thức sở hữu: Sở hữu riêng, Cấp 2 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/05/2016. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 71587.20.702.5977902.BĐ ngày 11/06/2020 được công chứng ngày 11/06/2020 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm nêu trên được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Nhử T tại Ngân hàng TMCP Q. Trường hợp số tiền thu được từ việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm trên không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Q thì ông Nguyễn Nhử T vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán tiếp số tiền còn thiếu cho Ngân hàng TMCP Q.
Bị đơn ông Nguyễn Nhử T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 17/2025/KDTM-ST ngày 05 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân Quận Tân Bình đã tuyên:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Buộc ông Nguyễn Nhử T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Q (M) số tiền nợ gốc: 2.499.901.270 đồng; nợ lãi trong hạn: 5.479.452 đồng; nợ lãi quá hạn: 275.331.592 đồng; tổng cộng số tiền là 2.780.712.314 đồng (Hai tỷ bảy trăm tám mươi triệu bảy trăm mười hai ngàn ba trăm mười bốn đồng), trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án có thẩm quyền.
Ông Nguyễn Nhử T tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh tính từ ngày 06/02/2025 theo mức lãi suất đã thỏa thuận của các hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
Trường hợp ông Nguyễn Nhử T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP Q (M) có quyền yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liến với đất có diện tích 30,3 m² thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ số 19 (BĐĐC-2005); địa chỉ: 3 Hồ N, Phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC 917488, số vào sổ cấp GCN: CH04394; tài sản
gắn liền với đất là Nhà ở, loại nhà ở: nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng: 29,5 m², diện tích sàn: 85,5 m², hình thức sở hữu: sở hữu riêng, Cấp 2 do Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/05/2016, cập nhật sang tên cho ông Nguyễn Nhử T ngày 30/10/2019 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 71587.20.702.5977902.BĐ ngày 11/06/2020 được công chứng tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 12/6/2020 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm nêu trên được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Nhử T tại Ngân hàng TMCP Q. Trường hợp số tiền thu được từ việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm trên không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Q thì ông Nguyễn Nhử T vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán tiếp số tiền còn thiếu cho Ngân hàng TMCP Q.
- Ông Nguyễn Nhử T có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng TMCP Q (M) số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí:
Ông Nguyễn Nhử T phải chịu phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 87.614.246 (tám mươi bảy triệu sáu trăm mười bốn ngàn hai trăm bốn mươi sáu) đồng.
Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Q (M) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 42.204.492 (bốn mươi hai triệu hai trăm lẻ bốn ngàn bốn trăm chín mươi hai) đồng theo biên lai thu số 0002376 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 04/3/2025, ông Nguyễn Nhử T kháng cáo bản án sơ thẩm, lý do ông không nhận được các văn bản tố tụng của Toà án, ngoài ra ông T đã thanh toán toàn bộ khoản nợ vay cho ngân hàng vào ngày 18/01/2025.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn nộp đơn đề nghị về việc rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện vì ngày 13/3/2025, M và ông Nguyễn Nhử T đã ký biên bản thanh lý hợp đồng cấp tín dụng thể hiện ông Nguyễn Nhử T đã tất toán toàn bộ khoản vay tại M và M đã giải chấp tài sản bảo đảm theo đúng quy định. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 299 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, M tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối
với ông Nguyễn Nhử T. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Bị đơn - Ông Nguyễn Nhử T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không đồng ý việc nguyên đơn rút đơn yêu cầu khởi kiện. Ông T đã thanh toán toàn bộ khoản nợ vay cho M vào ngày 18/01/2025. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Về nội dung: Nguyên đơn có đơn đề nghị rút đơn khởi kiện tại phiên toà phúc thẩm nhưng bị đơn không đồng ý, bị đơn đã hoàn tất việc thanh toán nên các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không còn cơ sở để giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
- Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì việc khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại. Bị đơn có địa chỉ tại Quận T, nên Tòa án nhân dân Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
- Bị đơn kháng cáo bản án sơ thẩm nên thẩm quyền giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa Kinh tế - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ theo Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
Xét đơn kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và sự thừa nhận của bị đơn tại phiên toà phúc thẩm, xác định trong quá trình tố tụng tại Toà án cấp sơ thẩm, ông T được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Toà án Quận Tân Bình đã tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông T là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Do không thu thập được các tài liệu, chứng cứ do bị đơn nộp nên Hội đồng xét xử sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp để làm chứng cứ vụ án. Như vậy, Toà án nhân dân Quận Tân Bình đã xét xử và ban hành bản án sơ thẩm buộc bị đơn phải thanh toán nợ gốc và lãi, đồng thời chấp nhận yêu cầu phát mại tài sản theo yêu cầu của nguyên đơn là không trái quy định của pháp luật.
Sau khi Toà án nhân dân quận Tân Bình ban hành bản án sơ thẩm ngày 05/02/2025, bị đơn kháng cáo. Theo các tài liệu bị đơn nộp tại phiên toà phúc thẩm gồm: Thông báo về việc giải chấp tài sản bảo đảm ngày 13/01/2025, Biên bản thanh lý hợp đồng cấp tín dụng ngày 13/3/2025 với nội dung xác nhận ông T đã thanh toán xong khoản nợ vào ngày 13/01/2025 và ngân hàng đã trả lại tài sản thế chấp. Các tài liệu này không được nguyên đơn và bị đơn cung cấp cho Toà án cấp sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn cũng thừa nhận ông Nguyễn Nhử T đã nộp tiền thanh toán cho ngân hàng vào ngày 20/01/2025, tuy nhiên theo thủ tục của ngân hàng thì đến 13/3/2025 thì mới ghi nhận việc ông T hoàn thành thanh toán khoản vay và lập Biên bản thanh lý hợp đồng.
Qua trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ xác định bị đơn đã thanh toán hết toàn bộ nợ gốc và lãi trước khi Toà án nhân dân quận Tân Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm. Xét thấy, khi đã tất toán xong khoản vay thì nguyên đơn và bị đơn phải có trách nhiệm thông báo và gửi kèm theo tài liệu cho Toà án biết, nhưng không bên nào thông báo dẫn đến việc Toà án vẫn mở phiên toà xét xử và tuyên buộc bị đơn phải thanh toán nợ theo yêu cầu khởi kiện của ngân hàng. Toà án nhân dân quận Tân Bình không có lỗi khi ban hành bản án sơ thẩm với các nội dung nêu trên.
Nguyên đơn có đơn đề nghị rút đơn khởi kiện tại phiên toà phúc thẩm nhưng bị đơn không đồng ý nên Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Do phát sinh tình tiết mới chứng minh bị đơn đã hoàn tất việc thanh toán nên các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không còn cơ sở để giải quyết. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần thiết sửa bản án sơ thẩm và bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ 5.000.000 (năm triệu) đồng, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 và khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Bị đơn được chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Nhử T.
Sửa bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm.
Áp dụng Điều 30; Điều 38; Khoản 1 Điều 147; Điều 148; khoản 2 Điều 308; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- [1] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q.
- [2] Về chi phí tố tụng: Ngân hàng TMCP Q phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ 5.000.000 (năm triệu) đồng.
- [3] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Ngân hàng TMCP Q (M) phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 87.614.246 (tám mươi bảy triệu sáu trăm mười bốn ngàn hai trăm bốn mươi sáu) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà Ngân hàng TMCP Q đã nộp là 42.204.492 (bốn mươi hai triệu hai trăm lẻ bốn ngàn bốn trăm chín mươi hai) đồng theo Biên lai thu số 0002376 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; nay còn phải nộp thêm 45.409.754 (bốn mươi lăm triệu bốn trăm lẻ chín nghìn bảy trăm năm mươi bốn) đồng.
- [4] Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Ông Nguyễn Nhử T không phải chịu án phí phúc thẩm, được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 2.000.000 (hai triệu) đồng theo Biên lai thu số 0003615 ngày 26/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lưu Thị Đoan Trang |
Bản án số 180/2025/KDTM-PT ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 180/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
