Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 180 /2025/HS-ST

Ngày: 02/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Lỗ Thị Kiều Oanh

Các hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Nguyễn Đình Hiền – cán bộ nghỉ hưu.
  • + Ông Nguyễn Cao Biền – nguyên chánh thanh tra sở GDĐT

thành phố Hà Nội.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Phương Anh - thư ký Tòa án nhân

dân khu vực 6 - Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội tham gia

phiên tòa: ông Đặng Hoài An - Kiểm sát viên

Ngày 02 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự thụ lý số: 175/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Đức T - sinh ngày 20/01/2007; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: tổ dân phố M, phường T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: sinh viên; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Đức Q- Sinh năm: 1978 và bà: Nguyễn Thị Phương H- Sinh năm 1983; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đầu thú bị tạm giữ từ ngày 11/7/2025 đến ngày 20/7/2025; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. Nguyễn Hữu Q1 - sinh ngày: 27/04/2006; Giới tính: Nam; nơi thường trú: tổ dân phố E, H, phường X, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: sinh viên; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Hữu C- sinh năm 1963 và bà: Đặng Thị C1- sinh năm 1962; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 11/7/2025 đến ngày 20/7/2025; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Nguyễn Minh Đ- sinh ngày 25/02/2009; Giới tính: Nam; nơi thường trú: tổ dân phố H, phường T, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: học sinh; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Đình L (đã chết) và bà: Vũ Thị T1- sinh năm 1966; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 11/7/2025 đến ngày 20/7/2025; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  4. Nguyễn Minh A - sinh ngày 13/05/2009; Giới tính: Nam; nơi thường trú: tổ dân phố T, phường T, thành phố Hà Nội; chỗ ở hiện tại: tổ dân phố H, phường T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: học sinh; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Tư M- Sinh năm: 1987 và bà: Hoàng Thị Q2- Sinh năm: 1989; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 11/7/2025 đến ngày 20/7/2025; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  5. Hà Văn T2- sinh ngày 04/07/2009; Giới tính: Nam; nơi thường trú: Khu G, xã C, tỉnh Phú Thọ; chỗ ở hiện tại: Số B, ngõ A đường P, tổ C, phường X, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: học viên; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Hà Văn S- Sinh năm: 1987 và bà: Nguyễn Thị Kim N- Sinh năm: 1984; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 11/7/2025 đến ngày 20/7/2025; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  6. Phạm Thanh T3- sinh ngày 28/05/2008; Giới tính: Nam; nơi thường trú: số G đường P, tổ E, phường P, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Phạm Duy T4 (đã chết) và bà: Đoàn Thu H1- Sinh năm: 1989; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 11/7/2025 đến ngày 20/7/2025; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Minh Đ: bà Vũ Thị T1- sinh năm 1966 – mẹ đẻ; nơi thường trú: tổ dân phố H, phường T, thành phố Hà Nội. Có mặt

* Đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Minh A: ông: Nguyễn Tư M- Sinh năm: 1987 và bà: Hoàng Thị Q2- Sinh năm: 1989 – bố mẹ đẻ; nơi thường trú: tổ dân phố T, phường T, thành phố Hà Nội; chỗ ở hiện tại: tổ dân phố H, phường T, thành phố Hà Nội; Có mặt

* Đại diện hợp pháp của bị cáo Hà Văn T2: ông: Hà Văn S- Sinh năm: 1987 và bà: Nguyễn Thị Kim N- Sinh năm: 1984 – bố mẹ đẻ; nơi thường trú: Khu G, xã C, tỉnh Phú Thọ; chỗ ở hiện tại: Số B, ngõ A đường P, tổ C, phường X, thành phố Hà Nội. Có mặt.

* Đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Thanh T3: bà: Đoàn Thu H1- Sinh năm: 1989 – mẹ đẻ; nơi thường trú: số F, ngách A, N, phường T, thành phố Hà Nội. Có mặt

* Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo Minh A, Minh Đ, T: bà Quách Thị Thu H2 – trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước TP. Hà Nội. Có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Đoàn Nhất L1, sinh năm 2007; địa chỉ: tổ dân phố E, phường T, thành phố Hà Nội. Có mặt.
  • - Anh Hà Văn S, sinh năm: 1987; nơi thường trú: Khu G, xã C, tỉnh Phú Thọ; chỗ ở hiện tại: số B, ngõ A đường P, tổ C, phường X, thành phố Hà Nội. Có mặt.
  • - Anh Nguyễn Mạnh C2, sinh năm 1983; trú tại số E, ngõ D P, tổ G, phường P, thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 ngày 06/7/2025, Nguyễn Hồng H3 (sinh ngày 30/04/2010, trú tại số E, ngõ D P, tổ G, phường P, thành phố Hà Nội điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS: 29BC-046.69 đi đến nhà Từ Tuấn Đ1 (sinh ngày 11/9/2009, trú tại số H, ngõ I P, phường P, thành phố Hà Nội) rủ đi sang khu vực H để đánh nhau với nhóm thanh niên “Mỹ Đức”, Đ1 đồng ý, H3 chở Đ1 đi đến nhà Nguyễn Minh A, tại nhà Minh A lúc này có Nguyễn Minh Đ, Phạm Thanh T3 và Hà Văn T2. Tại đây Nguyễn Hồng H3 rủ mọi người đi đánh nhau với nhóm thanh niên “M”, cả nhóm đồng ý rồi nhóm H3 điều khiển xe máy chở nhau ra khu vực trường mầm non B1, thuộc Tổ H, phường T, thành phố Hà Nội nhặt vỏ chai bia làm hung khí, T2 lấy khoảng 5-7 vỏ chai bia cho vào ba lô, Đ1 lấy vỏ chai bia để trong túi ni long và để trong người, Minh A lấy vỏ chai bia cầm ở tay và để ở trong người với mục đích đi ném nhóm thanh niên “Mỹ Đức”. Sau khi lấy vỏ chai bia xong Nguyễn Minh Đ điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu Xám Đen, BKS: 29BL-035.94 chở Hà Văn T2 (mang ba lô chứa vỏ chai bia); Nguyễn Hồng H3 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS: 29BC-04669 chở Nguyễn Minh A cầm vỏ chai bia; Phạm Thanh T3 điều khiển xe máy BKS: 29L1-914.06 chở Từ Tuấn Đ1 cầm túi nilong chứa vỏ chai bia. Nhóm của H3 đi đến ngã tư P, thì gặp Vương Triệu P( sinh ngày 07/5/2010, trú tại số H, ngõ I đường P, phường X, thành phố Hà Nội), P là người điều khiển xe máy Honda SH BKS: 29BD-006.64 chở sau là Nguyễn Hữu Q1, sinh ngày 27/4/2006 và Cao Quốc Đ2 (sinh ngày 26/7/2010, trú tại tổ dân phố số D, phường T, thành phố Hà Nội). Tại đây, Đ1 đưa vỏ chai bia cho Đ2 để đi đánh nhau, Q1 lên đổi điều khiển xe máy cho P, Đ2 ngồi giữa, P ngồi sau. Tất cả nhóm di chuyển đến H để đón 01 nam giới tên Việt A1 (không rõ nhân thân lai lịch; Việt Al đi cùng xe máy với 01 đối tượng nam giới chưa rõ nhân thân, cùng xe máy và biển kiểm soát) đi cùng nhóm, để tìm, đánh nhau với nhóm nam giới “Mỹ Đức” trên địa bàn khu vực H. Trong quá trình di chuyển trên đường nhóm của H3 điều khiển xe máy rú ga, đánh võng, dàn hàng ngang trên đường, bấm còi inh ỏi. Tất cả nhóm di chuyển đến khu vực cây xăng X phường K, thành phố Hà Nội thì gặp Nguyễn Đức T, điều khiển xe máy nhãn hiệu Vario (xe T mượn của H4 là bạn bè xã hội, không rõ BKS), do trước đó P đã rủ T đi đánh nhau. T thấy nhóm của H3 cầm vỏ chai bia, T biết là đi đánh nhau, nên T đi theo. Đ2 sang xe T chở, Minh A sang xe Quyền chở; H3 điều khiển xe một mình. Cả nhóm đi ra đường T, phường H thì gặp nhóm Nguyễn Đại B ( sinh năm 2009, trú tại tổ D, phường X, thành phố Hà Nội) nên “chập” vào nhóm của B. Nhóm của B có khoảng 05 xe máy khoảng 11 đối tượng (chưa rõ nhân thân lai lịch), B ngồi sau trên xe nhãn hiệu Vario (không rõ BKS) “kẹp” 3 người do bạn của B gọi đến, sau đó B chuyển sang điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 29BC-046.69 (xe của H3) chở H3, nhóm của H3, B điều khiển xe máy phóng nhanh, bấm còi inh ỏi, rú ga đi với tốc độ nhanh trên đường T- N hướng H- T, khi đi đến khu vực hầm chui Khuất Duy T5 thì quay đầu lại đi đường N theo hướng T đi H, khi đi đến khu vực H, nhóm của B, H3 thấy 04 đối tượng điều khiển 02 xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, mỗi xe chở sau 01 người, trong đó có người cầm theo vật giống thanh kiếm (xe máy che biển kiểm soát, các đối tượng sử dụng khẩu trang đen, chưa rõ nhân thân lai lịch) đi theo hướng H đi T, hai nhóm chửi nhau. Do nhóm đối tượng này điều khiển xe Airblade có màu xe giống đặc điểm với nhóm đã ném B và H3 ngày 05/7/2025, nên B và H3 nghi ngờ đây là nhóm mâu thuẫn trước đó. Sau đó, nhóm của B, H3 gồm khoảng 07 xe máy hò hét, điều khiển xe máy đi vòng sang đường để đuổi theo nhóm đối tượng trên. Khi đuổi qua đoạn hầm chui Khuất Duy T5, xe máy do Q1 điều khiển không đuổi kịp và mất dấu nên không đuổi nữa, nhóm của B gồm B chở H3; Đ chở T2; T chở Đ2 đuổi theo nhóm thanh niên trên. Nhóm B tiếp tục quay đầu đuổi theo nhóm thanh niên trên, theo hướng T đi H trên đường N - T, quá trình đuổi nhau các đối tượng điều khiển xe máy di chuyển tốc độ nhanh bấm còi inh ỏi, lạng lách, đánh võng. Xe của Q1 không đuổi kịp nên rẽ về phía đường P, xe của T3 chở Đ1 do không đuổi được nên đã vào cây xăng V (mặt đường T) đổ xăng. Nhóm còn lại do B gọi đến tản mác, đi đâu thì không rõ. Bách điều khiển xe máy chở H3 đi với tốc độ cao, khi đi đến đoạn ngã 3 đường T giao cắt với đường N, phường H, thành phố Hà Nội, lúc này đèn tín hiệu đang báo đỏ các phương tiện di chuyển theo hướng T đi H phải dừng lại, tuy nhiên B điều khiển xe máy vượt đèn đỏ dẫn đến xe do B điều khiển va chạm vào bên trái, giữa thân xe ô tô nhãn hiệu HOWO BKS: 29K-133.71 do anh Thàm Văn D (Sinh năm: 1998; Nơi thường trú: M, T, Lai Châu) điều khiển đi chậm trên đường N (tín hiệu đèn giao thông báo xanh) chuyển hướng đi ra đường T - T. Hậu quả: Nguyễn Đại B tử vong tại hiện trường, còn Nguyễn Hồng H3 bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ3. P, T3, Đ, T đi ra hiện trường xem vụ việc biết B tử vong, sau đó cả nhóm bỏ về.

Ngày 11/7/2025, UBND phường H có văn bản đề nghị Công an phường H xử lý các đối tương gây mất trật tự trên địa bàn ngày 07/7/2025.

Ngày 11/07/2025, Nguyễn Hồng H3, Hà Văn T2, Nguyễn Minh A, Nguyễn Minh Đ, Phạm Thanh T3, Nguyễn Hữu Q1, Vương Triệu P, Cao Quốc Đ2, Nguyễn Đức T, Từ T, đã đầu thú khai nhận hành vi phạm tội.

* Vật chứng tạm giữ gồm: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu Xám Đen, BKS: 29BL-035.94, số Khung: RLHJK0359RY070407; số máy: JK03E3385851; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu Trắng Bạc BKS: 29L1-914.06, số Khung: RLHJA3920PY412132; số máy: JA39E3023369; 01xe máy nhãn hiệu Hon da Wave màu Đen, BKS: 29BC-046.69, số khung: RLHJA393XRY632339; 01 xe ô tô nhãn hiệu HOWO BKS: 29K-133.71.

Tại Cáo trạng số: 90/CT-VKS-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội đã truy tố Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Minh Anh, Nguyễn Đức Tú, Nguyễn Hữu Q1, Hà Văn T2, Phạm Thanh T3 về tội: “gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất.

Người đại diện hợp pháp và người bào chữa của bị cáo Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Hữu Q1, Hà Văn T2, Phạm Thanh T3 đều trình bày: các bị cáo phạm tội lần đầu; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội ra đầu thú; tuổi đời còn rất trẻ, đang ở độ tuổi vị thành niên, một số bị cáo còn đang theo học nên đề nghị hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo với mức án thấp nhất và cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố; sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của bộ luật hình sự xử phạt:
  • Nguyễn Đức T từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 tháng đến 60 tháng.
  • Nguyễn Hữu Q1 từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 tháng đến 60 tháng.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của bộ luật hình sự; Điều 12, Điều 119; Điều 124 của Luật tư pháp người chưa thành niên xử phạt:
  • Nguyễn Minh Đ từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 30 tháng.
  • Nguyễn Minh A từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 30 tháng.
  • Hà Văn T2 từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 30 tháng.
  • Phạm Thanh T3 từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 30 tháng.

Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã, phường nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó có căn cứ các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Đánh giá chứng cứ trong vụ án: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

    Đêm ngày 06/7/2025 và rạng sáng ngày 07/07/2025, Nguyễn Đức T, Nguyễn Hữu Q1, Nguyễn Minh A, Nguyễn Minh Đ, Hà Văn T2 và Phạm Thanh T3 đã có hành vi điều khiển xe mô tô máy chở nhau mang theo vỏ chai bia mục đích để đi đánh nhau. Trong quá trình di chuyển trên đường các bị cáo đuổi nhau, hò hét, dàn hàng ngang, phóng nhanh, bấm còi inh ỏi, vượt đèn đỏ đi trên tuyến đường T, N hướng H đi T và hướng T đi H. Hậu quả gây mất trật tự an toàn giao thông, gây hoang mang lo lắng cho người dân, khi tham gia giao thông trên địa bàn phường H, thành phố Hà Nội.

    Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cầu thành tội “gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung là “dùng hung khí” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 Hà Nội truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

  3. Xét về tính chất của vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:

    Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, làm mất trật tự trị an an toàn xã hội, gây bất bình, hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Cần có hình phạt nghiêm tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của mỗi bị cáo, nhằm giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người hữu ích và đáp ứng đấu tranh phòng ngừa chung.

    Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn, không có tổ chức chặt chẽ, mang tính chất a dua, bộc phát. Trong số các bị cáo không có bị cáo nào có vai trò chính, các bị cáo có vai trò ngang nhau trong vụ án. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Minh A, Nguyễn Minh Đ, Hà Văn T2, Phạm Thanh T3 khi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng mức án thấp hơn so với các bị cáo khi phạm tội đủ 18 tuổi trở lên là phù hợp với quy định tại Điều 12, Điều 119; Điều 124 của Luật tư pháp người chưa thành niên.

    Khi lượng hình cần xem xét: các bị cáo ra đầu thú, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa tiền án, tiền sự. Hầu hết các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn rất hạn chế. Bị cáo Hà Văn T2 có ông nội được tặng thưởng chiến sĩ vẻ vang; bị cáo Nguyễn Hữu Q1 có bố đẻ là cựu chiến binh tham gia chiến trường V, Hà Giang; bị cáo Phạm Thanh T3 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bà nội là thương binh 4/4, có huy hiệu 40 năm tuổi đảng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Xét các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được hưởng hình phạt tù có điều kiện, được cải tạo tại địa phương là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTPngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.

  4. Về vật chứng của vụ án:

    Quá trình điều tra đã xác định: anh Đoàn Nhất L1 (là anh họ của Phạm Thanh T3) là chủ sở hữu của chiếc xe Honda Wave, màu Trắng Bạc BKS: 29L1-914.06; anh Hà Văn S (Bố đẻ Hà Văn T2) là chủ sở hữu của chiếc xe BKS: 29BC-046.69, Nguyễn Mạnh C2 (bố đẻ Nguyễn Hồng H3) là chủ sở hữu đối chiếc xe Honda Vision, màu Xám Đen, BKS: 29BL-035.94. Anh L1, anh S và anh C2 không giao xe mà do Phạm Thanh T3, Hà Văn T2, Nguyễn Hồng H3 đã tự ý lấy để đi. Ngày 06/09/2025, Cơ quan điều tra đã trả những chiếc xe trên cho các chủ sở hữu là anh L1, anh S và anh C2 là có căn cứ và đúng pháp luật.

    Đối với xe ô tô BKS: 29K-133.71 thuộc sở hữu của công ty C3 cho công ty CP T6 và xây dựng Cường L2 không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  5. Các vấn đề khác:

    Đối với Nguyễn Hồng H3, Cao Quốc Đ2, Từ T, Vương Triệu P có liên quan đến vụ án, nhưng chưa đủ 16 tuổi khi phạm tội nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Công an thành phố H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

    Đối với chiếc xe nhãn hiệu VARIO (không nhớ BKS) do Nguyễn Đức T điều khiển, chiếc xe này T mượn bạn tên H4, nhưng không biết địa chỉ cụ thể, đến sáng ngày 07/7/2025 T trả xe; Đối với chiếc xe Honda SH 29BD-006.64 Vương Triệu P mượn của bạn tên Q là bạn xã hội, P không biết nhà Q ở đâu, sáng 07/7/2025 P đã mang trả cho Q chiếc xe trên (xe không thu giữ được), nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với chiếc xe trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

    Đối với nhóm đi cùng Nguyễn Đại B khi nhập vào nhóm Nguyễn Hồng H3, những người trong nhóm của H3 không biết tên, tuổi nhà ở đâu, Cơ quan điều tra có công văn gửi Đ4, về việc truy tìm người biết việc và các đối tượng liên quan nhưng không có kết quả, Cơ quan điều tra đã tách ra và tiếp tục xác minh, nếu đủ căn cứ xử lý sau là có căn cứ, đúng pháp luật.

  6. Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
  7. Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo dưới 18 tuổi; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Hữu Q1;

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 12, Điều 119; Điều 124 của Luật tư pháp người chưa thành niên đối với các bị cáo Nguyễn Minh A, Nguyễn Minh Đ, Hà Văn T2, Phạm Thanh T3

Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Hữu Q1, Nguyễn Minh A, Nguyễn Minh Đ, Hà Văn T2, Phạm Thanh T3 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  2. Xử phạt:
    • - Nguyễn Đức T: 33 (ba mươi ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án.
    • - Nguyễn Hữu Q1: 33 (ba mươi ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án.
    • - Nguyễn Minh A: 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án.
    • - Nguyễn Minh Đ: 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án.
    • - Hà Văn T2: 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án.
    • - Phạm Thanh T3: 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Nguyễn Đức T cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Hà Nội kết hợp cùng gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao các bị cáo Nguyễn Minh A và Nguyễn Minh Đ cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Hà Nội kết hợp cùng gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách

    Giao các bị cáo Nguyễn Hữu Q1, Hà Văn T2 cho Ủy ban nhân dân phường X, thành phố Hà Nội kết hợp cùng gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách

    Giao bị cáo Phạm Thanh T3 cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố Hà Nội kết hợp cùng gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

  3. Án phí: Các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Hữu Q1, Nguyễn Minh A, Nguyễn Minh Đ, Hà Văn T2, Phạm Thanh T3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội.
  • - VKSND TP. Hà Nội.
  • - VKSND khu vực 6 – Hà Nội.
  • - Công an thành phố Hà Nội.
  • - THADS thành phố Hà Nội.
  • - Bị cáo.
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lỗ Thị Kiều Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2025/HS-ST ngày 02/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 180/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T và đồng phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger