|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI Bản án số: 180/2025/HS-PT Ngày: 14/3/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Lê Thị Mai; |
| Các Thẩm phán: | Ông Bùi Xuân Trọng; |
| Ông Thái Duy Nhiệm. |
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Minh - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 43/2025/TLPT-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Phan Văn K phạm tội “Giết người”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Bị cáo có kháng cáo:
Phan Văn K, sinh ngày 12/9/1959; tại tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn N, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn C và bà Trần Thị C1 (đều đã chết); Có vợ là bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1957, có 04 con, con lớn sinh năm 1980, con nhỏ sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Bị cáo tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia và Lào sau 30/4/1975; Bị cáo bị bắt, tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 13/5/2024, chuyển tạm giam ngày 22/5/2024. Hiện đang tạm giam tại Trạm tạm giam Công an tỉnh T.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại anh Trần Đình P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị D không kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Phan Văn K và ông Trần Đình U, sinh năm 1971, đều trú tại thôn N, xã V, thành phố T, là hàng xóm của nhau, nhà của bị cáo giáp nhà ông Ư. Chiều tối ngày 02/5/2024, ông Ư đốt nilon làm khói bay sang nhà bị cáo nên hai bên xảy ra mâu thuẫn, cãi, chửi nhau. Sáng ngày 03/5/2024, bị cáo và ông Ư tiếp tục cãi, chửi nhau, đến 09 giờ 15 phút cùng ngày thì anh Trần Đình P, sinh năm 1994 (là con trai ông Ư và ở cùng nhà với ông) về nhà thì thấy bị cáo và ông Ư đang cãi nhau, anh P đi sang khu vực trước cổng nhà bị cáo chửi: Đ.M mày ra đây, Đ.M con nhà C (ông C là bố của bị cáo). Lúc này bị cáo đang ở trong nhà nói với anh P: “Vào đây mà đánh tôi này”. Anh P chửi: “Tao không thèm vào chuồng chó nhà mày”, rồi dùng tay vời bị cáo ra đường. Bà Nguyễn Thị D (là vợ bị cáo) đứng trước hiên nhà ra khuyên can nhưng anh P vẫn lao vào nhà và bị bị cáo cầm bát nước hất vào mặt. Anh P tiếp tục lao vào để đánh bị cáo, bị cáo dùng tay đấm 02 cái vào vùng mặt anh P, anh P dùng tay trái ghì cổ kéo bị cáo ra đường, đẩy ngã bị cáo rồi dùng tay phải tát 02 cái vào mặt. Bị cáo bò dậy thì bị anh P tiếp tục dùng tay trái ghì cổ, tay phải tát liên tiếp nhiều cái vào mặt. Bị cáo ngã xuống đường, anh P đè lên người đánh làm bị cáo bị ngất, bà D dìu bị cáo vào trong nhà, còn anh P đi về nhà.
Do bực tức vì bị anh P đánh nên bị cáo nảy sinh ý định làm cho anh P bị điện giật rồi đánh anh P. Sáng ngày 04/5/2024, bị cáo chuẩn bị dụng cụ là đoạn gậy tre dài 1,35m, đường kính 1,3cm; đầu gậy gắn 01 chiếc ốc vít có quấn dây kim loại bằng đồng, cuối gậy được bọc bằng nilon bên trong và quấn dây (dạng dây chun) bên ngoài để cách điện. Bị cáo dùng một đoạn dây điện có vỏ nhựa buộc cố định vào phần giữa gậy tre, một đầu nối vào phần dây đồng ở đầu gậy, một đầu nối vào phích cắm điện để kết nối vào cực dương (dây nóng) nguồn điện của gia đình. Một mặt tường nhà kho của gia đình bị cáo giáp lối đi phần cổng nhà ông Ư, có chiều cao 2,13m, cách mặt đất 1,17m có ô thông gió bằng khung kính lật kích thước (28 x 51)cm, bên ngoài ô thông gió là lối đi từ sân ra cổng nhà ông Ư. Bị cáo sẽ dùng gậy tre chuẩn bị nêu trên kết nối với nguồn điện của gia đình đưa qua ô thông gió sang phần lối đi nhà ông Ư để dí vào người anh P cho điện giật.
Khoảng 5 giờ ngày 13/5/2024, bị cáo dùng ghế gỗ cao 1,17m trèo lên tháo khung kính lật ô thông gió của nhà mình, rồi lấy 02 ổ cắm điện có dây dài 2,6m và 8,23m nối với nhau và cắm vào ổ điện 220V trên tường nhà. Sau đó, bị cáo cắm dây điện có phích cắm trên gậy tre với ổ cắm điện đã kết nối từ nguồn điện trên tường nhà, dùng bút thử điện kiểm tra và biết đầu ốc vít đã có điện nên rút phích điện, chờ anh P đi làm qua cổng. Bà D nhìn thấy bị cáo thực hiện các thao tác trên nên can ngăn rồi cùng bị cáo đi lên phòng khách xem ti vi, sau đó bà đi phơi quần áo. Khoảng 6 giờ 40 phút cùng ngày, nghe thấy tiếng mở cửa bên nhà ông Ư, đoán có người đi ra, bị cáo đi đến khu vực ô thông gió gian nhà kho, đứng lên ghế đứng quan sát. Thấy anh P đi ra mở cổng, bị cáo liền cắm phích điện rồi cầm đoạn gậy tre trên đặt lên ô thông gió. Khi anh P dắt xe đi ra cổng và đứng quay lưng gần vị trí ô thông gió, bị cáo ngồi trên ghế đưa gậy qua ô thông gió sang phần cổng chỗ anh P đứng chọc phần đầu gậy có ốc vít đã kết nối điện vào vùng cổ sau gáy của anh P. Cùng lúc này, bà D phát hiện sự việc nên đã rút phích cắm điện ở ổ cắm ra; anh P bị điện giật nên dùng tay giật được đoạn gậy tre của bị cáo và chửi: “Đ.M thằng C, mày dùng điện giết tao à, tao phải báo công an”. Bị cáo nói: “Con vợ tao ngu nó mới cứu mày, hôm nay mày mới thoát chết”. Anh P không bị thương tích và đến Công an xã V, thành phố T trình báo sự việc.
- Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 233/KLTTCT-TTPY ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh T, kết luận đối với anh Trần Đình P: Vùng vai trái hiện không còn sưng nề, không bầm tím, không có sẹo; Không thấy dấu vết tổn thương bỏng, không thấy các điểm hoại tử trên cơ thể. Kết luận: Thương tích của anh Trần Đình P tại thời điểm giám định không có căn cứ cho điểm tỷ lệ theo thông tư.
- Bản Kết luận giám định số 3710/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của V Bộ C2 đối với nội dung yêu cầu giám định khi kết nối 01 đoạn gậy tre dài 1,35m, đường kính 1,3 cm (một đầu gậy tre gắn ốc vít, quấn quanh các sợi dây kim loại bằng đồng màu vàng giữ chặt trên đỉnh 01 ốc vít bằng kim loại màu vàng chĩa đầu quay ra phía ngoài). Đoạn dây điện được cố định bằng các dây kim loại màu ghi kết nối với các sợi dây điện màu đồng đã tuốt vỏ bọc và khi kết nối với dây điện có phích cắm điện có điện áp không? Điện áp là bao nhiêu? có gây nguy hiểm cho con người không? Kết luận: Khi kết nối các mẫu vật gửi giám định trên với nhau và cung cấp nguồn điện xoay chiều 220V-50Hv, điện áp đo được tại phần dây kim loại bằng đồng và ốc vít là 220V. Với mức điện áp trên sẽ gây nguy hiểm cho người khi tiếp xúc với phần dây kim loại bằng đồng và ốc vít bằng kim loại.
- Bản Kết luận giám định số 3694/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của V Bộ C2, nội dung giám định về tế bào của anh Trần Đình P hoặc Phan Văn K: Trên đoạn dây điện không còn vỏ cách điện và trên ốc vít gắn trên dây điện gửi giám định có bám dính ADN người, do lượng dấu vết ít, chất lượng dấu vết kém nên không xác định được ADN của ai.
- Bản Kết luận giám định số 664/KL-KTHS ngày 30/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T đối với dữ liệu video hiển thị ngày 13/5/2024 (quản lý của anh Trần Đức P1) và dữ liệu video hiển thị các ngày 03/5/2024, 04/5/2024 (quản lý của bị cáo Phan Văn K), kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép chỉnh sửa nội dung hình ảnh của dữ liệu video hiển thị ngày 13/5/2024, 03/5/2024, 04/5/2024; Hình ảnh, diễn biến liên quan đến vụ việc ngày 13/5/2024 được trích xuất, mô tả trong Phụ lục số 01 kèm theo Kết luận giám định; Hình ảnh, diễn biến liên quan đến vụ việc đánh nhau vào sáng ngày 03/5/2024, liên quan đến chuẩn bị công cụ vào ngày 04/5/2024 được trích xuất, mô tả trong Phụ lục số 02, 03 kèm theo Kết luận giám định. Kèm theo Kết luận giám định: Phụ lục số 01 (gồm 15 trang A4), Phụ lục số 02 (gồm 29 trang A4) và Phụ lục số 03 (gồm 17 trang A4).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đã quyết định:
- Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn K phạm tội “Giết người”.
-
Hình phạt: Áp dụng khoản 2 Điều 123, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 38, Điều 50, Điều 57 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Văn K 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 13/5/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết. Trả lại bà Nguyễn Thị D số tiền 10.000.000 đồng nộp theo biên lai thu tiền số 0000452 ngày 22/8/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 ổ cắm dạng hai chân tròn có 03 mặt kích thước 8x 8 x 4,5 cm làm bằng nhựa màu trắng, 01 ổ cắm điện làm bằng nhựa vàng; 03 phích cắm điện gồm: 01 phích cắm điện vỏ nhựa màu cam, 01 phích cắm điện vỏ cách điện bằng nhựa màu vàng, 01 phích cắm điện vỏ nhựa màu trắng có 02 chân kim loại; 01 đoạn dây điện màu vàng dài 2.6m, 01 dây điện loại dây một lõi đồng dài 8,23m; 01 ghế gỗ gấp đã qua sử dụng; 01 khung gỗ màu nâu bưng ô kính, hai bên khung gỗ có 02 khuy chốt kim loại màu vàng (quản lý tại hiện trường). (Số vật chứng có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án ngày 09/10/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình).
-
Án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phan Văn K.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Phan Văn K có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Phan Văn K thay đổi nội dung từ kháng cáo xin giảm hình phạt sang kêu oan, bị cáo cho rằng không thực hiện hành vi chọc phần đầu gậy có ốc vít đã kết nối điện vào vùng cổ sau gáy của anh Trần Đình P nhằm giết anh P.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm: Mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thay đổi lời khai không thừa nhận thực hiện hành vi chọc phần đầu gậy có ốc vít đã kết nối điện vào vùng cổ sau gáy của anh Trần Đình P nhằm giết anh P nhưng căn cứ lời khai của bị cáo Phan Văn K trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định do mâu thuẫn cá nhân, khoảng 6 giờ 55 phút ngày 13/5/2024, khi thấy anh P ra mở cổng và đứng ở vị trí giáp ô thông gió nhà kho của gia đình mình, K trèo lên ghế, đưa đoạn gậy tre đầu gậy gắn 01 chiếc ốc vít có quấn dây kim loại bằng đồng, nối với đoạn dây điện có phích cắm để kết nối vào cực dương (dây nóng) nguồn điện của gia đình qua ô thông gió, chọc phần đầu gậy có ốc vít đó kết nối với nguồn điện vào vùng cổ sau gáy của anh P. Việc bị hại không chết là do bà Nguyễn Thị D (là vợ Khoan) phát hiện sự việc đó rút phích cắm điện ở ổ cắm ra; anh P cũng dùng tay giật được đoạn gậy tre của K. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử Phan Văn K về tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
Sau khi xét xử sơ thẩm, không có tài liệu, chứng cứ mới nào có thể làm thay đổi bản chất vụ án nên kháng cáo kêu oan của bị cáo không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Phan Văn K có đơn kháng cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Phan Văn K thay đổi nội dung từ kháng cáo xin giảm hình phạt sang kêu oan, bị cáo cho rằng không thực hiện hành vi chọc phần đầu gậy có ốc vít đã kết nối điện vào vùng cổ sau gáy của anh Trần Đình P nhằm giết anh P. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của bị cáo Phan Văn K trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thừa nhận do mâu thuẫn cá nhân, ngày 03/5/2024, Phan Văn K bị anh Trần Đình P (là hàng xóm, ở giáp nhà K) dùng tay, chân đánh gây thương tích nên Khoan bực tức, nảy sinh ý định làm cho anh P bị điện giật.
Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như Đơn trình báo ngày 13/5/2024 của anh Trần Đình P nộp trực tiếp tại Công an xã V, thành phố T; Biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ, bản ảnh hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T lập hồi 11 giờ 45 phút ngày 13/5/2024 tại nhà Phan Văn K; Biên bản quản lý đồ vật, tài liệu ngày 13/5/2024 của anh Trần Đình P do Công an xã V; Biên bản quản lý đồ vật, tài liệu ngày 13/5/2024 của Phan Văn K do Công an xã V lập; Biên bản xác định truyền dẫn điện của dây và ổ cắm lập tại trụ sở Công an xã V hồi 8 giờ 10 phút ngày 13/5/2024; Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của anh Trần Đình P do Trạm y tế xã Vũ Chính lập hồi 8 giờ 30 ngày 13/5/2024, thể hiện: Vùng vai, cổ bên trái có 01 vết tấy đỏ kích thước 10 x 6 cm; Sổ khám chữa bệnh của anh Trần Đình P; Kết quả chụp X- Quang kỹ thuật ngày 13/5/2024 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T đối với anh Trần Đình P; Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 233/KLTTCT-TTPY ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh T; Bản Kết luận giám định số 3710/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của V Bộ C2; Bản Kết luận giám định số 3694/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của V Bộ C2; Bản Kết luận giám định số 664/KL-KTHS ngày 30/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T đối với dữ liệu video hiển thị ngày 13/5/2024 (quản lý của anh Trần Đức P1) và dữ liệu video hiển thị các ngày 03/5/2024, 04/5/2024 (quản lý của Phan Văn K; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án phù hợp với khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm có đủ cơ sở khẳng định: Do thù tức vì bị anh Trần Đình P đánh vào ngày 03/5/2024 nên Phan Văn K bực tức, nảy sinh ý định làm cho anh P bị điện giật. Khoan chuẩn bị dụng cụ là đoạn gậy tre dài 1,35m, đường kính 1,3cm; đầu gậy gắn 01 chiếc ốc vít có quấn dây kim loại bằng đồng, nối với đoạn dây điện có phích cắm để kết nối vào cực dương (dây nóng) nguồn điện của gia đình. Khoảng 6 giờ 55 phút ngày 13/5/2024, khi thấy anh P ra mở cổng và đứng ở vị trí giáp ô thông gió nhà kho của gia đình mình, K trèo lên ghế, đưa đoạn gậy tre qua ô thông gió, chọc phần đầu gậy có ốc vít đã kết nối với nguồn điện vào vùng cổ sau gáy của anh P nhưng bị bà Nguyễn Thị D (là vợ Khoan) phát hiện sự việc đã rút phích cắm điện ở ổ cắm ra; anh P cũng dùng tay giật được đoạn gậy tre của K nên không bị thương tích và không ảnh hưởng đến tính mạng. Việc bị hại không chết là nằm ngoài mong muốn của bị cáo nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử Phan Văn K về tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo phạm tội chưa đạt; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục một phần hậu quả cho bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có thời gian tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (Giấy chứng nhận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh T); nguyên nhân xảy ra vụ án có một phần lỗi của người bị hại để vận dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 03 (Ba) năm tự về tội “Giết người” là phù hợp.
[4] Việc xác định trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[5] Sau khi xét xử sơ thẩm, không có tài liệu, chứng cứ mới nào có thể làm thay đổi bản chất vụ án nên kháng cáo kêu oan của bị cáo Phan Văn K không có cơ sở chấp nhận; Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Phan Văn K là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
-
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn K; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình như sau:
- Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn K phạm tội “Giết người”.
- Hình phạt: Áp dụng khoản 2 Điều 123, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 38, Điều 50, Điều 57 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn K 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 13/5/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết. Trả lại bà Nguyễn Thị D số tiền 10.000.000 đồng nộp theo biên lai thu tiền số 0000452 ngày 22/8/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 ổ cắm dạng hai chân tròn có 03 mặt kích thước 8x 8 x 4,5 cm làm bằng nhựa màu trắng, 01 ổ cắm điện làm bằng nhựa vàng; 03 phích cắm điện gồm: 01 phích cắm điện vỏ nhựa màu cam, 01 phích cắm điện vỏ cách điện bằng nhựa màu vàng, 01 phích cắm điện vỏ nhựa màu trắng có 02 chân kim loại; 01 đoạn dây điện màu vàng dài 2.6m, 01 dây điện loại dây một lõi đồng dài 8,23m; 01 ghế gỗ gấp đã qua sử dụng; 01 khung gỗ màu nâu bưng ô kính, hai bên khung gỗ có 02 khuy chốt kim loại màu vàng (quản lý tại hiện trường) (Số vật chứng có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án ngày 09/10/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình).
- Án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phan Văn K.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phan Văn K được miễn án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN |
| CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Thái Duy Nhiệm | Lê Thị Mai |
| Bùi Xuân Trọng |
Bản án số 180/2025/HS-PT ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (giết người)
- Số bản án: 180/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Giết người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn K
