Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CÀ MAU

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 180/2025/DS-ST

Ngày 29 - 5 - 2025

V/v tranh chấp đòi lại tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Thanh Liêm

Ông Trịnh Anh Minh

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thông Hiểu – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 30/2025/TLST–DS ngày 16 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp đòi lại tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 233/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Phượng L, sinh năm 1976; địa chỉ: Số D, đường số C, khu tái định cư T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Duy T, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp B, Xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn H, sinh năm 1976; địa chỉ: Số D, đường số C, khu tái định cư T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 12 năm 2024, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Phượng L trình bày: Thông qua mối quan hệ quen biết, ông Trần Duy T có rủ bà và chồng bà tên Trần Văn H tham gia sàn giao dịch điện tử. Bà biết thời điểm đó tham gia sàn giao dịch điện tử lợi nhuận rất cao, ngày 1% lãi, 01 tháng khoảng 30% lãi. Tuy nhiên, trước đó bà có tham gia một lần và bị lỗ nên bà không dám tham gia nữa. Ông T thuyết phục vợ chồng bà nếu vợ chồng bà không dám tham gia thì gửi tiền ông T tham gia giúp. Ông T sẽ chia lợi nhuận cho vợ chồng bà 15%/tháng và ông T hưởng 15% lợi nhuận. Sau khi vợ chồng bà đưa tiền, ông T sẽ nộp tiền vào sàn thông qua chuyển khoản ngân hàng và dùng tiền này để mua đồng tiền điện tử trên sàn giao dịch điện tử bằng tài khoản của ông T. Ông T đảm bảo, cam đoan rằng chắc chắn 100% sẽ có lợi nhuận 15%/tháng và cam kết hoàn vốn cho vợ chồng bà trong khoảng thời gian 03 (ba) tháng. Sau khi nghe ông T thuyết phục, cam kết lợi nhuận và do đã có mối quan hệ quen biết trước đó nên vợ chồng bà đã tin tưởng và đưa tiền cho ông T. Ngày 19/12/2020 vợ chồng bà đưa cho ông T số tiền 20.000 USD, tương đương 465.160.000 đồng để mua tiền điện tử. Ông T cam kết sẽ đảm bảo vốn cho vợ chồng bà 100% sau ba 03 tháng. Khi đã nhận tiền của vợ chồng bà, ban đầu ông T báo có lợi nhuận và đưa tiền cho vợ chồng bà, do vậy vợ chồng bà tin tưởng ông T hơn. Tổng số tiền lãi ông T đã chuyển cho vợ chồng bà 156.400.000 đồng. Ngày 06/02/2021 ông T yêu cầu vợ chồng bà đưa thêm tiền đầu tư, cam kết lợi nhuận sẽ hưởng 15%/tháng và cam kết sẽ hoàn 100% vốn cho vợ chồng bà trong vòng ba tháng. Vì tin tưởng nên vợ chồng bà tiếp tục chuyển khoản cho ông T số tiền 234.000.000 đồng. Cùng ngày, ông T đã xác nhận tin nhắn đã nhận được tiền mà vợ chồng bà gửi. Sau đó, ông T báo với vợ chồng bà sàn giao dịch tiền điện tử đã bị sập nên toàn bộ số tiền vợ chồng bà gửi để đầu tư đã bị mất. Bà nhiều lần yêu cầu ông T trả lại tiền cho vợ chồng bà nhưng ông T trốn tránh.

Đến ngày 05/11/2024 bà gửi đơn tố giác hành vi của ông T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C. Tại đây ông T thỏa thuận trả cho vợ chồng bà số tiền 234.000.000 đồng, đã nhận của bà ngày 06/02/2021 nên Công an tỉnh C đóng hồ sơ không giải quyết. Sau đó, ông T cam kết sẽ trả dần mỗi tháng 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau đó nhiều tháng ông T chỉ trả cho vợ chồng bà được 5.000.000 đồng. Nay, bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Duy T trả lại cho bà số tiền 542.000.000 đồng (trong đó tiền bà gửi ông T ngày 19/12/2020 số tiền 465.160.000 đồng, ngày 06/02/2021 số tiền 234.000.000 đồng, tổng cộng 699.160.000 đồng, ông T trả cho bà 156.400.000 đồng).

Tại phiên tòa bà Lê Phượng L thay đổi yêu cầu khởi kiện. Bà L yêu cầu giải quyết buộc ông Trần Duy T trả cho vợ chồng bà số tiền 229.000.000 đồng theo cam kết.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trần Duy T trình bày: Vào khoảng thời gian tháng 12 năm 2020 ông có nhận giao dịch hộ cho bà Lê Phượng L trên sàn giao dịch tiền ảo Iean.Io với số tiền giao dịch trị giá 20.000 USD. Hình thức giao dịch là mở tài khoản trên sàn và gửi số tiền vào đó, sàn sẽ khóa lại trong 90 ngày rồi trả mức lãi tương đương 20%/tháng. Sau 90 ngày sàn trả lại vốn và gốc.

Sau khi giao dịch khoảng 01 tháng bà L có gửi 10.000 USD cho ông để đầu tư thêm. Ông đã nhận số tiền đầu tư giao dịch hộ cho bà L 02 lần tổng số tiền 30.000 USD để đầu tư. Theo chính sách của sàn giao dịch bảo đảm là 90 ngày hoàn vốn, nhưng sàn giao dịch chỉ hoạt động được khoảng 1,5 tháng thì ngưng giao dịch và báo bảo trì, nhưng sau đó đóng luôn. Thời điểm đó ông có báo cho bà L biết, nhưng mãi cho đến năm 2024 bà L đòi ông phải chịu trách nhiệm trả lại số tiền cho bà L. Do giao dịch trên sàn tiền ảo lãi suất rất cao và ông cũng mất tiền giống như bà L.

Vụ việc trên bà L đã gửi đơn yêu cầu đến Công an tỉnh C, nhưng sau nhiều tháng điều tra Công an để cho ông và bà L thương lượng. Khi đó ông đang có việc làm nên ông có cam kết hỗ trợ trả cho bà L 234.000.000 đồng theo giấy cam kết ngày 05/11/2024. Khi thỏa thuận xong, vào tháng 12/2024 ông có chuyển cho bà L 5.000.000 đồng, sau đó ông bị mất việc nên không chuyển tiếp số tiền như đã cam kết.

Hiện do hoàn cảnh ông đang gặp khó khăn và không có việc làm nên bà L yêu cầu ông trả số tiền 542.000.000 đồng, ông không đồng ý.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H trình bày: Ông thống nhất theo yêu cầu của bà L.

Đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến về thủ tục tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của bà Lê Phượng L. Buộc ông Trần Duy T có nghĩa vụ trả cho bà L và ông H số tiền 229.000.000 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm, ông T phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng ông T vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt ông T.

[2] Tại phiên tòa, bà Lê Phượng L thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về việc không yêu cầu ông Trần Duy T trả số tiền 313.000.000 đồng. Xét thấy, việc thay đổi của bà L là hoàn toàn tự nguyện nên được chấp nhận theo khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3] Xét bà L yêu cầu ông T trả cho bà và ông H số tiền 229.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng, tại biên bản ghi lời khai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C ông T trình bày: “...Để thể hiện thiện chí của tôi, tôi dùng tiền cá nhân của tôi hỗ trợ trả lại cho bà L số tiền 234.000.000 đồng mà bà L đã chuyển cho tôi để đầu tư vào ngày 06/02/2021 ...Do kinh tế tôi hiện tại đang khó khăn nên tôi không có khả năng trả cho bà L một lần hết số tiền trên, tôi sẽ thu xếp trả cho bà L định kỳ hàng tháng số tiền 10.000.000 đồng cho đến khi trả hết số tiền 234.000.000 đồng...” (bl 51). Và theo giấy cam kết ngày 05/11/2024 có nội dung: “...nay tôi làm giấy cam kết này xác nhận hỗ trợ lại 01 phần thiệt hại cho chị L với số tiền là 234.000.000 đồng. Số tiền trên tôi sẽ chuyển hỗ trợ hàng tháng vào ngày 5 tây, số tiền mỗi lần chuyển 10.000.000 đồng và chuyển đến khi đủ 234.000.000 đồng. Tôi cam kết hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật với cam kết trên... ký tên Trần Duy T” (bl 90A). Từ các căn cứ trên, chấp nhận yêu cầu của bà L. Buộc ông T trả cho bà L và ông H số tiền 229.000.000 đồng.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo qui định “Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận”. Do đó, ông T phải chịu án phí số tiền 11.450.000 đồng. (229.000.000 đồng x 5%).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 244, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Điều 166 của Bộ luật Dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận khởi kiện của bà Lê Phương L1.

  1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Lê Phượng L về buộc ông Trần Duy T trả số tiền 313.000.000 đồng.
  2. Buộc ông Trần Duy T trả cho bà Lê Phượng L và ông Trần Văn H số tiền 229.000.000 đồng (hai trăm hai mươi chín triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Phượng L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho bà L 12.855.000 đồng (mười hai triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0007515 ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau.

    Ông Trần Duy T phải chịu số tiền 11.450.000 đồng (chưa nộp).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sư;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VT. Tòa án Cà Mau.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Ngô Giang Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2025/DS-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 180/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 244, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Căn cứ vào Điều 166 của Bộ luật Dân sự. Tuyên xử: Chấp nhận khởi kiện của bà Lê Phương Liên. 1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Lê Phượng Liên về buộc ông Trần Duy Thanh trả số tiền 313.000.000 đồng. 2. Buộc ông Trần Duy Thanh trả cho bà Lê Phượng Liên và ông Trần Văn Hòa số tiền 229.000.000 đồng (hai trăm hai mươi chín triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. 3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Phượng Liên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho bà Liên 12.855.000 đồng (mười hai triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0007515 ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau. Ông Trần Duy Thanh phải chịu số tiền 11.450.000 đồng (chưa nộp). Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger