Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 180/2024/HS-ST

Ngày : 16/4/ 2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA


Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Ông Nguyễn Triều Châu.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Kim Sáng và bà Thiều Thị Phi Loan.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa.
  • - Đại diện VKSND Thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở TAND Thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 164/2024/TLST-HS ngày 26/3/2024 đối với bị cáo:

- Nguyễn Thanh N, sinh năm 1977 tại tỉnh Đồng Nai. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: 21/4 Cách mạng tháng 8, tổ 8, khu phố 3, phường Quyết Thắng, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Nưng (đã chết) và bà Nguyễn Thị Bến (đã chết); Sống chung như vợ chồng với chị Lương Thị Hồng Gấm, có 01 con sinh năm 2013; Tiền án: Ngày 10/6/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 28/5/2022; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 08/12/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai có mặt.

- Bị hại:

  • + Nguyễn Văn Thưng, sinh năm 1994. Địa chỉ: 15A/5A Cách mạng tháng 8, tổ 3, khu phố 5, phường Hòa Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.
  • + Đoàn Thanh Phú, sinh năm 2002. Địa chỉ: Tổ 24, khu phố 4, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, có mặt.
  • + Nguyễn Thị Út, sinh năm 1982 và Nguyễn Văn Xuân, sinh năm 1969. Cùng địa chỉ: 15/5A Cách mạng tháng 8, tổ 3, khu phố 5, phường Hòa Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Từ ngày 04 đến ngày 06 tháng 12 năm 2023, Nguyễn Thanh Ngọc đã thực hiện các hành vi Trộm cắp tài sản, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 20 giờ ngày 04/12/2023, Ngọc đi đến dãy phòng trọ thuộc khu phố 4, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, Wave RSX, biển số: 93N3-1909, màu đỏ -bạc-đen đang dựng trước cửa phòng của dãy nhà trọ, không người trông coi, không khóa cổ, trên xe không có chìa khóa, nên Ngọc dắt bộ xe ra khỏi dãy trọ đi về hướng đường Huỳnh Văn Nghệ và giấu xe tại 01 lùm cây cạnh chân cầu Hóa An. Đến khoảng 4 giờ ngày 05/12/2023 Ngọc quay lại chỗ xe đang giấu, đấu nối dây điện phía dưới ở khóa để mở máy và Ngọc tiếp tục để xe chỗ đó. Đến 8h30 phút cùng ngày, Ngọc ghé vào nhà người bạn tên Trí (không rõ họ) tại khu phố 1, phường Bửu Long gặp người tên Trung (không rõ địa chỉ), Ngọc nhờ Trung bán dùm xe vừa trộm được, thì Trung đồng ý và yêu cầu mang xe ra khu vực Bến Gỗ để tiêu thụ, sau đó Ngọc điều khiển xe mô tô nêu trên chở Trung ngồi sau đến quán cà phê “Cô Thu” thuộc Quốc lộ 51, khu phố 1, phường An Hòa, thành phố Biên Hòa. Lúc này, Trung nói với Ngọc ngồi trong quán cà phê đợi Trung, rồi Trung lấy xe chạy đi đâu không rõ. Khoảng 30 phút sau, Trung đi xe grab đến và nói Ngọc xe bán được 1.700.000đ và đưa tiền cho Ngọc, Ngọc cho Trung 100.000₫ là tiền công Trung đã mang xe đi tiêu thụ, còn lại 1.600.000₫ Ngọc sử dụng tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ 2: Vào khoảng 2 giờ ngày 06/12/2023, Ngọc đi bộ đến khu vực hẻm đường vào lẩu tôm Năm Ri thuộc phường Hòa Bình, Ngọc có lượm 01 cây sắt dài 40 cm mang theo, mục đích dùng để bẻ khóa cổng, khi đến dãy nhà trọ số 487/26/31, khu phố 5, phường Hòa Bình, thành phố Biên Hòa thấy có 02 xe mô tô ( 01 xe wave màu xanh, biển số 60N6-5233, 01 xe wave alpha màu đỏ, biển số 51S4-7530) đang dựng, không người trông coi nên Ngọc dùng cây sắt dài 40cm bẻ khóa cổng bung ra, Ngọc đi đến xe mô tô biển số 60N6-5233, dắt xe ra hướng chân cầu Hóa An, cất giấu xe tại lùm cây chân cầu Hóa An và tiếp tục quay lại dãy nhà trọ trên lấy trộm xe biển số 51S4-7530 nhưng do xe bị khóa cổ, Ngọc dùng cây típ sắt dài 40cm bẻ khóa cố rồi dắt xe ra lùm cây tại chân cầu Hóa An cất giấu, trên đường đi Ngọc vứt cây típ sắt dài 40 cm (không nhớ vị trí vứt), sau đó Ngọc đi ăn tại quán hủ tiếu ngã tư Bửu Long thì gặp người bạn tên Quý ( không lai lịch). Ngọc hỏi Quý biết chỗ nào mua xe không giấy tờ không thì Quý nói là để Quý mua rồi Ngọc dắt Quý đến địa điểm cất giấu xe, bán cho Quý xe Wave alpha màu đỏ đen, biển số: 51S4-7530 với giá 1.300.000đ và xe wave màu xanh biển số 60N6-5233 với giá 1.150.000đ và sử dụng số tiền bán xe tiêu xài hết.

Khoảng 17 giờ ngày 07/12/2023, Ngọc đến Công an phường Bửu Long đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng vụ án:

  • + 02 USB hiệu KAKUSIGA, hiệu TOSHIBA.
  • + Đối với xe mô tô biển số 93N3-1909 của anh Đoàn Thanh Phú; xe mô tô biển số 51S4-7530 của anh Nguyễn Văn Thưng và xe mô tô biển số 60N6-5233 của ông Nguyễn Văn Xuân và bà Nguyễn Thị Út. Ngọc đã bán 03 xe mô tô nêu trên nên không thu hồi được
  • + Tại Bản kết luận định giá tài sản số 644/KL – HĐĐGTS ngày 08/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa đã kết luận: Xe mô tô biển số 93N3-1909 có trị giá 5.000.000₫;
  • + Tại Bản kết luận định giá tài sản số 647/KL – HĐĐGTS ngày 11/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa đã kết luận: Xe mô tô biển số 51S4-7530 có trị giá 9.000.000đ; Xe mô tô biển số 60N6-5233 có trị giá 800.000 đ;

Về dân sự: Anh Đoàn Thanh Phú yêu cầu bị cáo bồi thường 5.000.000đ, trị giá xe mô tô biển số 93N3-1909; Ông Nguyễn Văn Xuân yêu cầu bị cáo bồi thường 2.000.000đ, trị giá mô tô biển số 60N6-5233; Anh Nguyễn Văn Thương yêu cầu bị cáo bồi thường 18.000.000đ, trị giá xe mô tô biển số 51S4-7530. Do 03 xe mô tô nêu trên bị cáo đã bán và không thu hồi được.

Tại cáo trạng số 187/CT-VKSBH, ngày 26/3/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Ngọc về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa bị cáo trình bày: Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng Viện kiểm sát truy tố và không có ý kiến gì thêm. Về dân sự: Theo yêu cầu của các bị hại thì bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Đoàn Thanh Phú số tiền 5.000.000đ; Bồi thường cho ông Nguyễn Văn Xuân và bà Nguyễn Thị Út số tiền 2.000.000đ; Bồi thường cho anh Nguyễn Văn Thưng số tiền 18.000.000đ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Thanh Ngọc phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên và phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo ra đầu thú.

Về mức hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù.

Về dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc bồi thường thiệt hại cho những người bị hại.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra công khai và kết quả tranh luận tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ và các chứng cứ khác, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Thực tế có cơ sở chứng minh, từ khoảng 20 giờ ngày 04/12/2023 đến ngày 06/12/2024 Nguyễn Thanh Ngọc đã nhiều lần trộm cắp tài sản, cụ thể: Khoảng 20 giờ ngày 04/12/2023, Ngọc đi đến dãy phòng trọ thuộc khu phố 4, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, Wave RSX, biển số: 93N3-1909 của anh Đoàn Thanh Phú; Vào khoảng 2 giờ ngày 06/12/2023, Ngọc đi bộ đến khu vực hẻm đường vào lẩu tôm Năm Ri thuộc phường Hòa Bình, Ngọc dùng 01 tuýp sắt dài 40 cm nhặt được mang theo, mục đích dùng để bẻ khóa cổng, khi đến dãy nhà trọ số 487/26/31, khu phố 5, phường Hòa Bình, thành phố Biên Hòa thấy có 02 xe mô tô (01 xe wave màu xanh, biển số 60N6-5233, một xe wave alpha màu đỏ, biển số 51S4-7530) đang dựng, không người trông coi nên Ngọc dùng cây sắt dài 40cm bẻ khóa cổng bung ra và tiếp tục trộm cắp 02 xe mô tô biển số 51S4-7530 của anh Nguyễn Văn Thưng và xe mô tô biên số 60N6-5233 của bà Nguyễn Thị Út và ông Nguyễn Văn Xuân cất giấu xe tại lùm cây chân cầu Hóa An. Tổng trị giá 03 xe mô tô Ngọc trộm cắp có trị giá 14.800.000đ.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ. Nên có căn cứ kết luận bị cáo phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhiều lần, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm vì đã có 01 tiền án về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích; Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật.

[5] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Theo yêu cầu của các bị hại thì bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Đoàn Thanh Phú số tiền 5.000.000đ; Bồi thường cho ông Nguyễn Văn Xuân và bà Nguyễn Thị Út số tiền 2.000.000đ; Bồi thường cho anh Nguyễn Văn Thưng số tiền 18.000.000đ nên cần ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc bồi thường cho các bị hại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
    • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2023.
  2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585 và 589 Bộ luật dân sự năm 2015: Buộc bị cáo bồi thường thiệt hại về dân sự, cụ thể:
    • + Bồi thường cho anh Đoàn Thanh Phú số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng);
    • + Bồi thường cho anh Nguyễn Văn Thưng số tiền 18.000.000đ (mười tám triệu đồng);
    • + Bồi thường cho ông Nguyễn Văn Xuân và bà Nguyễn Thị Út số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng).

    Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành số tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày. Người có mặt tính từ ngày tuyên án. Người vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận

  • - Bị cáo, bị hại;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Cơ quan điều tra;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Lưu h/s, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Triều Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 180/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh Ngọc " Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger