Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 180/2024/HS-ST.

Ngày: 23-9-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đại Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Vinh
Bà Phạm Thị Sơn
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Ông Lê Văn Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm trực tuyến tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh T, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 167/2024/TLST-HS ngày 27/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/2024/QĐXXST-HS ngày 11/9/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đào Văn T, sinh ngày 13/5/1993 tại huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; cấp ngày 30/11/2021; nơi cấp: Cục C1 về TTXH.
  2. Nơi cư trú và nơi ở hiện nay: Thôn B, xã Q, H Q, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 7/12; Con ông: Đào Văn L sinh năm 1955 và bà: Trần Thị T1, sinh năm: 1955; Vợ: Trần Thị T2, sinh năm:1996; Có 01 con sinh năm 2022; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình. Tiền sự: Không;

    Tiền án: Tại bản án số 48/2023/HSST ngày 16/8/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 70.000.000đ, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

    Bị tạm giữ từ ngày 10/01/2024; tạm giam từ ngày 16/01/2024cho đến nay. Hiện nay đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).

  3. Họ và tên:Phạm Văn M, sinh ngày 05/6/1996 tại huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; cấp ngày 24/5/2022; nơi cấp: Cục C1 về TTXH.
  4. Nơi cư trú và nơi ở hiện nay: Thôn H, xã Q, H. Q, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 5/12; Con ông: Phạm Văn K sinh năm 1976 và bà: Trần Thị H sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

    Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

    Bị tạm giữ từ ngày 10/01/2024; tạm giam từ ngày 16/01/2024. Hiện nay đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Đào Văn T: Luật sư Nguyễn Gia T3 của Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (S, phường B, TP ., tỉnh Thanh Hóa) (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 15 phút ngày 09/01/2024, tổ công tác Công an thị xã N đang làm nhiệm vụ tại tổ dân phố H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Phát hiện, bắt quả tang Phạm Văn M có hành vi “Mua bán trái phép chất ma tủy”. Thu giữ: 01 (một) tui nilon màu trắng, viền màu đỏ có chứa 05 (năm) viên nén màu cam không rõ hình dạng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, gắn sim số 0912.449.608; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno7 màu vàng, số gắn sim số 0389.575.286; 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, gắn BKS 64H1-245,08 và 01 đăng ký xe.

Phạm Văn M khai nhận 05 (năm) viên nén màu cam là ma tủy tổng hợp đang mang đi bản thì bị bắt quả tang.

Ngày 10/01/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn M tại phòng A thuộc phố T, phường Q, thành phố T, thu giữ:

  • 01 (một) hộp nhựa hình trụ tròn màu trắng bên trong có chứa: 01 (một) túi nilon màu trắng viền màu đỏ, đựng 04 (bốn) viễn nén mẫu cam; 01 (một) túi nilon màu trắng viền màu xanh, dựng các hạt tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nilon màu trắng viền màu đỏ bên trong có chứa: 02 (hai) túi nilon màu trắng viền màu xanh đều đựng các hạt tinh thể màu trắng;
  • 01 (một) hộp nhựa hình trụ tròn trọng suốt, nắp hộp màu trắng bên trong có chứa: 10 (mười) túi nilon màu trắng viền màu đỏ chưa qua sử dụng; 01 (một) túi nilon màu trắng viền màu đỏ, bên trong đựng 04 (bốn) viên nén mẫu cam;
  • 01 (một) túi nilon màu trắng viền màu đỏ, bên trong đựng 02 (hai) viên nén màu xanh; 01 (một) túi nilon màu trắng viền màu đỏ, bên trong đựng 06 (sáu) viên nén màu cam; 01 (một) túi nilon màu trắng viền màu đỏ, bén trong đựng các cục chất bột màu xanh; 01 (một) túi nilon màu trắng viền màu đỏ, bén trong có chứa: 07 (bảy) túi nilon màu trắng viền màu xanh. Trong mỗi túi đều đựng các hạt tinh thể màu trắng.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74, bên trong lắp sim số 0325701797, điện thoại đã qua sử dụng.

Phạm Văn M khai toàn bộ số ma túy H1 phiến thu giữ khi khám xét phòng trọ của M cùng số ma túy thu giữ khi bắt quả tang, là của Đào Văn T, đưa cho M trước đó. Mục đích để M bán khi có khách hỏi mua. Trên cơ sở lời khai của Phạm Văn M, và tài liệu thu thập trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã N, đã thi hành Lệnh khám xét nơi ở của Đào Văn T tại thôn B, xã Q, huyện Q, thu giữ:

  • 01 (một) hộp nhựa hình trụ tròn màu trắng được chôn dưới đất bên trong hộp có chứa: 01 (một) túi nilon màu trắng viền màu xanh, bên trong đựng các hạt tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong đựng 01 (một) viên nén màu cam; 04 (bốn) túi nilon màu trắng viền màu đỏ, bên trong mỗi túi đều đựng 05 (năm) viên nén màu cam; 01 (một) túi nilon màu trắng viền màu đỏ, bên trong đựng 06 (sáu) viên nén màu cam;
  • 01 (một) túi nilon màu trắng viền màu đỏ bên trong có chứa: 08 (tám) túi nilon màu trắng viền màu xanh bên trong mỗi túi đều đựng các hạt tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nilon màu trắng viền màu đỏ bên trong có chứa: 08 (tám) túi nilon màu trắng viền màu xanh, bên trong mỗi túi đều đựng các hạt tinh thể màu trắng.

Đến 19 giờ ngày 10/01/2024, Đào Văn T đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã N đầu thú về hành vi cung cấp ma túy cho Phạm Văn M để M bán đồng thời cất giấu ma túy tại chỗ ở để bán. Ngoài ra, T tự nguyện giao nộp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone XS màu trắng, gắn sim số 0944 779 993, điện thoại đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận: Khoảng tháng 10 năm 2023, (do đã lâu T không nhớ cụ thể ngày) trong một lần đi công việc tại TP ., bị cáo Đào Văn T gặp và quen biết với người đàn ông giới thiệu tên T4 ở Quận G, TP . (T chỉ biết tên là T4, không biết đầy đủ họ tên và nơi ở). Qua nói chuyện T5 biết T4 có ma túy bán, nên T đã xin số điện thoại 0904.043.xxx của T4 để liên lạc (T không lưu tên trong dang bạ). Sau khi về Thanh Hóa, do nợ nần, cần tiền tiêu xài cá nhân nên T đã nảy sinh ý định mua ma túy để bán lại kiếm lời. Khoảng ngày 03/12/2023, T một mình đi vào TP . gặp T4 để mua ma túy. T hẹn gặp T4 tại quán cà phê ở Quận G (T không nhớ tên quán và địa chỉ). Trong lúc nói chuyện, T hỏi T4 có ma túy bán không. T4 trả lời có và hỏi lại T muốn mua ma túy gì, số lượng bao nhiêu. T nói muốn mua 100 (Một trăm) viên Kẹo và 30 (ba mươi) chỉ Ketamine. T4 đồng ý bán và báo giá 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). TT4 thống nhất cách thức giao dịch mua bán, T4 đưa số tài khoản cho T để T chuyển tiền trước cho T4. Khi nhận được tiền T4 sẽ đóng gói ma túy gửi về cho T theo địa chỉ của T. Bàn bạc thống nhất xong, T4 bảo T chuyển 50.000.000đ, tiền mua ma túy cho T4. T đồng ý, sau đó T4 đưa số tài khoản để T chuyển tiền, T dùng số tài khoản 1019942277, mở tại ngân hàng V của T chuyển số tiền 50.000.000đ vào số tài khoản T4 đưa (T không nhớ số tài khoản nhưng nhớ chủ tài khoản tên là Ngọc H2). Chuyển tiền xong T4 nói với T, khi nào về Thanh H3 nói trước để T4 gửi ma túy về cho T. Tối ngày 06/12/2023, trước khi về Thanh Hóa, TT4 gặp nhau ăn tối tại một nhà hàng ở Quận G, TP . (T không nhớ tên nhà hàng và địa chỉ). Trong lúc ăn uống, T nói cho T4 biết sáng ngày 07/12/2023, sẽ về Thanh Hóa và bảo T4 gửi ma túy về cho T ở địa chỉ thôn B, Q, Q, Thanh Hóa. Sáng ngày 07/12/2023, T bắt xe khách đi từ TP . về Thanh Hóa. Tối ngày 08/12/2023, T về đến nhà. Lúc này T gọi điện cho T4, hỏi đã gửi ma túy chưa, gửi theo đường nào thì T4 nói gửi qua đường chuyển phát nhanh.

Ngày 13/12/2023, có người gọi cho T (người của dịch vụ chuyển phát nhanh, T không biết tên và địa chỉ) hỏi T có nhà không để sip hàng đến. T bảo người giao hàng đem đến gần nhà T, sau đó T một mình ra lấy, Lấy được gói hàng bọc kín T đem về nhà, do không có ai ở nhà nên T mở ra kiểm tra thì thấy bên trong có 02 túi nilon (01 túi đựng Kẹo và 01 túi đựng Ketamine). Đối với túi K1, T kiểm đếm được 100 viên, còn túi Ketamine T6 không cân nên không rõ khối lượng. Sau khi mua được ma túy, T6 chia số ma túy này thành nhiều túi nhỏ bỏ vào hai hộp nhựa cất sau nhà.

Trong khoảng thời gian tháng 12/2023, Đào Văn TPhạm Văn M đang học tiếng Hàn Quốc tại thành phố T. M đứng tên thuê nhà trọ (phòng A thuộc phố T, phường Q, thành phố T) để ở và tiện cho việc đi học. Giữa TM có quan hệ họ hàng (bà nội M là chị gái bố T). Khoảng ngày 18/12/2023, T lấy một hộp nhựa đựng ma túy K1 và Ketamine mà T chia sẵn trước đó (T không kiểm đếm nên không biết số lượng ma túy từng loại là bao nhiêu) đem lên phòng trọ đưa cho M. Mục đích để M bán, và dặn M nếu có người hỏi mua thì bán với giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) một viên “Kẹo” và 4.000.000đ (bốn triệu đồng) một chỉ Ketamine. M đồng ý bán ma túy cho T. Khi có ma túy, M tìm khách để bán, M đã nhiều lần bán ma túy. Khách mua ma túy của M chủ yếu là người Nghi Sơn, Thanh H3 nên M không biết tên và nơi ở. Khi có khách hỏi mua ma túy, M sẽ yêu cầu khách chuyển tiền trước vào số tài khoản 9325701797 ngân hàng V của M, sau đó hẹn địa điểm rồi M đem ma túy đến bán, khách phải trả thêm tiền công (tiền sip). Tiền bán ma túy Minh chuyển lại cho T qua số tài khoản 1019942377, mở tại ngân hàng V của T (số tiền này T đã chi tiêu cá nhân hết). Khi M bán ma túy cho T, tiền nhà, chi phí sinh hoạt T là người chi trả, có lúc T cho M tiền để tiêu vặt. Số tiền T cho M đã chi tiêu cá nhân hết.

Đối với số ma túy T cất giấu tại nhà, T đã nhiều lần bán cho khách với giá 400.000₫ (bốn trăm nghìn đồng) một viên “Kẹo” và 4.000.000đ (bốn triệu đồng) một chỉ Ketamine. Khách mua chủ yếu là ở T, Thanh Hóa. T không bán cho người quen hoặc khách ở Q, vì không muốn anh em bạn bè biết ảnh hưởng đến uy tín danh dự. Ở các lần bán ma túy, T đều không biết tên, địa chỉ của khách mua. Khi có người gọi điện hỏi mua ma túy, T sẽ hẹn trước địa điểm, sau đó một mình đem ma túy đến điểm hẹn để bán. Số ma túy T cất giấu tại khu vực bãi đất trống trong vườn nhà T, mục đích để bán nếu có người hỏi mua, hoặc trường hợp Phạm Văn M bán hết số ma túy tại phòng 102 nhà trọ H, thì T sẽ đưa cho M bán. Tiền bán ma túy cho khách T đã chi tiêu cá nhân hết. Số ma túy T chưa bán hết ngày 09/01/2024, khi Công an khám xét đã thu giữ toàn bộ.

Khoảng 22 giờ ngày 09/01/2024, có số điện thoại 0945.996.xxx, gọi vào số điện thoại 0912.449.xxx của Phạm Văn M. M nghe máy thì nam thanh niên, (M chưa gặp, không biết tên, địa chỉ) hỏi mua của M 05 viên kẹo, và yêu cầu M đem đến chợ C2, thuộc địa phận thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. M báo giá 05 viên kẹo 2.000.000đ, và 200.000đ tiền sịp. Tổng số tiền khách phải trả là 2.200.000₫ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng), M yêu cầu người mua chuyển tiền trước cho M. Sau đó M gửi số tài khoản 9325701797, mở tại ngân hàng V của M cho người mua. Một lúc sau người mua chuyển đủ số tiền 2.200.000đ cho M. Nhận được tiền, M lấy 05 viễn kẹo màu cam, bỏ vào túi nilon màu trắng viền đỏ, cất vào trong người. M lấy xe máy BKS 64H1-24508, một mình chạy vào chợ C2 để bán. Khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày, khi M đi đến phường H, thị xã N thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang.

* Kết quả trưng cầu giám định ma túy;

- Đối với số ma túy thu giữ khi bắt quả tang Phạm Văn M: (Bản Kết luận giám định số 175/KL-KTHS, ngày 15/012024 của Phòng K2 Công an tỉnh T) Kết luận:

  • 05 (năm) viên nén mầu cam, không rõ hình dạng của phong bị niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy có tổng, khối lượng 2,207g (hai phẩy hai không bẩy gam) loại MDMA;
  • + Đối với số ma túy thu giữ khám xét phòng trọ Phạm Văn M: (Bản Kết luận giám định số 195/KL-KTHS, ngày 15/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T) Kết luận:
    • 04 (bốn) viên nén mẫu cam chứa trong túi nilon màu trắng viền đỏ niêm phong gửi giám định, là ma túy có tổng khối lượng 1,847g (một phẩy tám bốn bảy gam) loại MDMA,
    • Các hạt tính thể màu trắng chứa trong 03 túi nilon màu trắng viền xanh niêm phong gửi giám định, là ma túy có tổng khối lượng 2,029g (hai phẩy không hai chín gam) loại Ketamine,
    • 10 (mười) viên nén màu cam chứa trong túi nilon màu trắng viền đỏ niêm phong gửi giám định, là ma túy có tổng khối lượng 4,601g (bốn phẩy sáu không một gam) loại MDMA,
    • 02 (hai) viên nén màu xanh chứa trong túi nilon màu trắng viền đỏ niêm phong gửi giám định, là ma túy có tổng khối lượng 0,838g (không phẩy tám ba tám gam) loại MDMA, Metaphetamine, Ketamine,
    • Các cục bột màu xanh chứa trong túi nilon màu trắng viền đỏ niêm phong gửi giám định, là ma túy có tổng khối lượng 1,632g (một phẩy sáu ba hai gam) loại MDMA,
    • Các hạt tinh thể màu trắng chứa trong 07 túi nilon màu trắng viền xanh niêm phong gửi giám định, là ma túy có tổng khối lượng 9,864g (chín phẩy tám sáu tư gam) loại Ketamine,
  • + Đối với số ma túy thu giữ khám xét nơi ở của Đào Văn T: (Bản Kết luận giám định số 195/KL-KTHS, ngày 15/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T) Kết luận:
    • Các hạt tinh thể màu trắng chứa trong túi nilon màu trắng viền xanh niêm phong gửi giám định, là ma túy có tổng khối lượng 0,725g (không phẩy bảy hai lăm gam) loại Ketamine;
    • 27 (hai bảy) viên nén màu cam chứa trong túi nilon màu trắng niêm phong gửi giám định, là ma túy có tổng khối lượng 11,990g (một một phẩy chin chín không gam) loại MDMA,
    • Các hạt tinh thể màu trắng chứa trong 08 túi nilon màu trắng viền xanh niêm phong gửi giám định, là ma túy có tổng khối lượng 5,800g (năm phẩy tám không không gam) loại Ketamine;
    • Các hạt tinh thể màu trắng chứa trong 08 túi nilon màu trắng viền xanh, đựng trong túi nilon màu trắng viễn đỏ niêm phong gửi giám định, là ma túy có tổng khối lượng 11,148g (mười một phẩy một bốn tám gam) loại Ketamine.

Đối với xe máy gắn BKS 64H1-245.08, thu giữ khi bắt quả tang Phạm Văn M. M khai chiếc xe này là của Đào Văn T, đưa cho M làm phương tiện đi lại. Tiến hành làm việc với T về nội dung này T khai: Khoảng tháng 11/2022, (Do đã lâu T không nhớ ngày) có người đàn ông cắm xe máy 64H1-245.08, cho T với giá 4.000.000đ, và hẹn hai ngày sau đến lấy, thấy xe có đăng ký nên T đồng ý cho cắm. Hết thời gian không thấy người cắm xe đến lấy nên T đã để làm phương tiện đi lại. T không nhớ tên tuổi địa chỉ người cắm xe. Tra cứu phương tiện tại phòng CSGT C3 Hóa, xác định xe máy trên chủ xe là Hồ Văn N, sinh năm 1979, nơi thường trú: Thạch Lý, Đông Thạch, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Tra cứu xe vật chúng trong các vụ án, vụ việc thì xe máy trên không nằm trong danh sách xe vật chứng. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, đã Ủy thác điều tra cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V, ghi lời khai chủ xe Hồ Văn N. Anh N khai khoảng đầu năm 2022, (N không nhớ cụ thể thời gian) do không có tiền chữa bệnh nên đã bán xe máy 64H1-245, với giá 6.000.000đ (sáu triệu đồng), kèm giấy tờ xe. Tuy nhiên, N không nhớ tên, địa chỉ người mua. Qua trình điều tra xác định M đã dùng chiếc xe này làm phương tiện đi bán ma túy ngày 09/01/2024, thì bị Công an bắt quả tang.

Do đó, số vật chứng là các chất ma túy sau giám định; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno7 màu vàng; 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, gắn BKS 64H1-245.08 và 01 đăng ký xe; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74 (Thu giữ của Phạm Văn M); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone XS màu trắng (Thu giữ của Đào Văn T), chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa bảo quản, chờ xử lý.

Đối với người đàn ông tên T4 bán ma túy cho T. Qua trình điều tra T khai chỉ biết T7, gặp T4 tại Quận G, thành phố Hồ Chí Minh (T chi biết tên là T4, chưa từng đến nhà, họ tên cụ thể thế nào T không rõ). Khi liên lạc với T4, T gọi đến số 0904043351của Tèo. Khi chuyển tiền mua ma túy cho Tèo T chuyển 50.000.000đ vào số tài khoản 4568686877777 mở tại ngân hàng M2. Qua rút lis điện thoại và sao kê tài khoản ngân hàng Số điện thoại 0904.043.xxx và số tài khoản ngân hàng D đều đúng tên Trần Thị Ngọc H4, sinh ngày 28/03/1991. Địa chỉ: phường D, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Số CMND: [...]. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã ủy thác điều tra cho Công an tỉnh H xác minh triệu tập, ghi lời khai Trần Thị Ngọc H4. Tuy nhiên gia đình và chính quyền địa phương không biết H4 đang làm gì ở đâu. Do đó, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ làm rõ, xử lý người tên T4 trong vụ án này.

Đối với người thanh niên dùng số điện thoại 0945.996.xxx, gọi vào số điện thoại 0912.449.xxx, của M để mua ma túy đêm ngày 09/01/2024. M khai không biết người này là ai, ở đâu. Người này đã dùng số điện thoại 0945.996.xxx, liên hệ mua ma túy của M nhiều lần, lần gần nhất là ngày 04/01/2024. Các lần mua trước đều chuyển tiền trước cho M và hẹn địa điểm sau đó M đem ma túy đến điểm hẹn. Cơ quan điều tra đã phối hợp với nhà mạng rút lis điện thoại để xác minh làm rõ nhưng đến nay chưa có kết quả. Do đó Cơ quan điều tra không đủ căn cứ làm rõ trong vụ án này.

Đối với số tài khoản 0971303068, mở tại ngân hàng M3, đã chuyển số tiền 2.200.000đ, đến số tài khoản 9325701797 mở tại ngân hàng V của Phạm Văn M để mua 05 viên kẹo đêm ngày 09/012024. Qua trình điều tra xác định chủ tài khoản 0971303068 mang tên Nguyễn Văn H5, sinh ngày 08/02/1990, số CMTND [...]. Địa chỉ: Thôn C, xã A, thị xã N, Thanh Hóa. Cơ quan điều tra đã nhiều lần xác minh triệu tập H5 để đấu tranh làm rõ. Tuy nhiên H5 không có mặt tại địa phương, gia đình và chính quyền địa phương không biết H5 đang làm gì ở đâu. Do đó, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ làm rõ trong vụ án này.

Đối với số tiền 2.200.000đ, chuyển đến số tài khoản 9325701797 mở tại ngân hàng V của Phạm Văn M để mua 05 viên kẹo của M đêm ngày 09 012024. Xác định là vật chứng của vụ án, nên Cơ quan điều tra đã phối hợp với ngân hàng P số tiền này chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng số 57/CT-VKS-P1 ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Đào Văn T, về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", quy định tại đểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự và Phạm Văn M về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát đề nghị:

Hình phạt chính: Áp dụng điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” xử phạt từ 16 năm tù đến 17 năm tù. Được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam. Phạt bổ sung từ 20.000.000đ đến 30.000.000đ.

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17;Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Phạm Văn M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy", xử phạt từ 8 năm tù đến 9 năm tù. Được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam.

* Hình phạt bổ sung: Bị cáo M không có nghề nghiệp ổn định, gia đình hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung .

* Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: Trong 01(một) Phong bì được dán kín niêm phong, mặt trước ghi: “CATX Nghi So TC114 ngày 10/01/2024”. Mặt sau có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Minh T8, Nguyễn Văn T9, Lưu Bình N1 và các hình dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh T. (Kèm KLGĐ số 175/KL-KTHS ngày 15/01/2024). Trong 01(một) Hộp giấy ký hiệu T1 01(một) Hộp giấy ký hiệu T2 đều được dán kín niêm phong, xung quanh có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Minh T8, Nguyễn Trần Đ, Nguyễn Văn Đ1 và các hình dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh T. (Kèm KLGĐ số 195/KL-KTHS ngày 15/01/2024).

- Tịch thu, phát mại sung công, nộp ngân sách nhà nước gồm: 01(một) Xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đen xám, biển số 64H1-245.08 kèm theo 01(một) Chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số: 017450, tên chủ xe Hồ Văn N. 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen. 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno7, màu vàng. 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu trắng. Tất cả đều đã cũ, qua sử dụng.

- Tịch Thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 2.200.000đ, chuyển đến số tài khoản 9325701797 mở tại ngân hàng V của Phạm Văn M để mua 05 viên kẹo của M đêm ngày 09/01/2024. Hiện Cơ quan điều tra đã phối hợp với ngân hàng P số tiền này.

- Trả lại cho Đào Văn T 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Đào Văn T có quan điểm: Về tội danh và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thống nhất với viện kiểm sát. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T dưới mức VKS đề nghị.

Lời nói sau cùng, các bị cáo nhận tội, không tranh luận, xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên. VKSND tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan Điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Các kết luận giám định, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 23 giờ 15 phút ngày 09/01/2024, tổ công tác Công an thị xã N đang làm nhiệm vụ tại tổ dân phố H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Phát hiện, bắt quả tang Phạm Văn M có hành vi tàng trữ trái phép 2,207g ma túy loại MDMA để mang đi bán kiếm lời. Ngoài ra, M1 còn có hành vi tàng trữ 8,080g ma túy loại MDMA; 11,893g ma túy loại Ketamine và 0,838g ma túy loại MDMA, Methamphetamine, Ketamine tại phòng 102 nhà trọ H thuộc phố T, phường Q, thành phố T mục đích để bán kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy M phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép chất ma túy tương đương 14,103g loại MDMA hoặc 47,010g loại Ketamine.

Đào Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số ma túy đã đưa cho Phạm Văn M để M bán mà Cơ quan điều tra đã thu giữ. Ngoài ra, T còn có hành vi tàng trữ 11,990g ma túy loại MDMA và 17,673g ma túy loại Ketamine tại nơi ở của mình xã Q, huyện Q mục đích để bán kiếm lời. Do đó Đào Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự về toàn bộ khối lượng ma túy đã thu giữ trong vụ án gồm: 22,277g ma túy loại MDMA; 29,566g ma túy loại Ketamine và 0,838g ma túy loại MDMA, Methamphetamine, Ketamine (tương đương với 104,650g Ketamine hoặc 31,390g MDMA).

Như vậy Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Đào Văn TPhạm Văn M cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 BLHS đối với T và điểm p khoản 2 Điều 251 BLHS, như Cáo trạng của VKSND tỉnh Thanh Hóa đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật.

[3] Tính chất và mức độ vụ án: Hành vi của bị cáo T là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn và của bị cáo M là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội rất lớn . Các bị cáo đều nhận thức rõ tác hại của ma túy, và hình phạt đối với các hành vi phạm tội ma túy rất nghiêm khắc, vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây tác hại nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nên phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS. Do vậy, cần phải xét xử nghiêm khắc trước pháp luật mới có tác dụng trừng trị, răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, nhất là đối với các loại tội phạm về ma túy đang gây bức xúc trong giai đoạn hiện nay.

Về vai trò của các bị cáo: Căn cứ Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự thì đây là vụ án mang tính đồng phạm giản đơn bị cáo T là người rủ bị cáo M, mua ma túy về và đưa cho M bán theo hướng dẫn của T nên xếp vai trò thứ nhất, bị cáo M là người trực tiếp bán và thu tiền về đưa cho T nên xếp thứ 2.

[4] Về động cơ, mục đích, nguyên nhân và điều kiện phạm tội của các bị cáo: Là mua bán ma túy để kiếm lời lấy tiền chi tiêu cá nhân.

[5] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng,giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:

Bị cáo T có 01 tình tiết tăng nặng về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự", là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Bị cáo M có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; gia đình các bị cáo ủng hộ phòng chống dịch C; bị cáo M có gia đình hoàn cảnh khó khăn, ông bà nội người có công với cách mạng; bị cáo T đầu thú. nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. HĐXX cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt tù các bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người tốt.

Đối với người đàn ông tên T4 bán ma túy cho T. Qua trình điều tra T khai chỉ biết T7, gặp T4 tại Quận G, thành phố Hồ Chí Minh (T chỉ biết tên là T4, chưa từng đến nhà, họ tên cụ thể thế nào T không rõ). Khi liên lạc với T4, T gọi đến số 0904043351của Tèo. Khi chuyển tiền mua ma túy cho Tèo T chuyển 50.000.000đ vào số tài khoản 4568686877777 mở tại ngân hàng M2. Qua rút lis điện thoại và sao kê tài khoản ngân hàng Số điện thoại 0904.043.xxx và số tài khoản ngân hàng D đều đúng tên Trần Thị Ngọc H4, sinh ngày 28/03/1991. Địa chỉ: phường D, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Số CMND: [...]. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã ủy thác điều tra cho Công an tỉnh H xác minh triệu tập, ghi lời khai Trần Thị Ngọc H4. Tuy nhiên gia đình và chính quyền địa phương không biết H4 đang làm gì ở đâu. Do đó, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ làm rõ, xử lý người tên T4 trong vụ án này như trong hồ sơ là phù hợp.

Đối với người thanh niên dùng số điện thoại 0945.996.xxx, gọi vào số điện thoại 0912.449.xxx, của M để mua ma túy đêm ngày 09/01/2024. M khai không biết người này là ai, ở đâu. Người này đã dùng số điện thoại 0945.996.xxx, liên hệ mua ma túy của M nhiều lần, lần gần nhất là ngày 04/01/2024. Các lần mua trước đều chuyển tiền trước cho M và hẹn địa điểm sau đó M đem ma túy đến điểm hẹn. Cơ quan điều tra đã phối hợp với nhà mạng rút lis điện thoại để xác minh làm rõ nhưng đến nay chưa có kết quả. Do đó Cơ quan điều tra không đủ căn cứ làm rõ trong vụ án này như trong hồ sơ là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung:

  • Bị cáo T mục đích mua bán trái phép chất ma túy nhằm để kiếm lời nên cần phải phạt bổ sung là phù hợp.
  • Bị cáo M không có công ăn việc làm ổn định, không có khả năng để thực hiện hình phạt bổ sung nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo M là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng:

Vật chứng cơ quan điều tra đã xử lý HĐXX miễn xét.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

* Toàn bộ các vật chứng Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành tịch thu tiêu hủy cùng các bao bì, nilong cụ thể như sau:

  • Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu M1 và 04 (bốn) viên nên màu cam không rõ hình dạng có tổng khối lượng sau giám định là 1,746g (một phẩy bảy bốn sáu gam). Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K2 Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T8, Lưu Bình N1, Nguyễn Văn T9 và các hình dấu của Phòng kị thuật hình sự Công an tỉnh T. Trong 01(một) Phong bì được dán kín niêm phong, mặt trước ghi: “CATX Nghi So TC114 ngày 10/01/2024”. Mặt sau có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Minh T8, Nguyễn Văn T9, Lưu Bình N1 và các hình dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh T. (Kèm KLGĐ số 175/KL-KTHS ngày 15/01/2024).
  • Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của hộp giấy ký hiệu K; 01 (một) hộp nhựa hình trụ tròn màu trắng; 01 (một) hộp nhựa hình trụ tròn trong suốt nắp hộp màu trắng; 03 (ba) viên nén màu cam có tổng khối lượng là 1,416g (một phẩy bốn một sáu gam) và 1,911g (một phẩy chín một một gam) các hạt tinh thể màu trắng của hộp nhựa hình trụ tròn màu trắng; 09 (chín) viên nén màu cam có tổng khối lượng là 4,176g (bốn phẩy một bảy sáu gam), 0,705g (không phẩy bảy không năm gam) các cục chất bột màu xanh, 1,456g (một phẩy bốn năm sáu gam) chất bột màu xanh và 9,392g (chín phẩy ba chín hai gam) các hạt tinh thể màu trắng của hộp nhựa hình trụ tròn trong suốt nắp hộp màu trắng. Tất cả được đựng trong một hộp giấy kí hiệu T1, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T8, Nguyễn Trần Đ, Nguyễn Văn Đ1 và các hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T. Trong 01(một) Hộp giấy ký hiệu T1 và được dán kín niêm phong, xung quanh có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Minh T8, Nguyễn Trần Đ, Nguyễn Văn Đ1 và các hình dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh T. (Kèm KLGĐ số 195/KL-KTHS ngày 15/01/2024).
  • Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của hộp giấy ký hiệu K3; 25 (hai năm) viên nén màu cam có tổng khối lượng là 11,127g (một một phẩy một hai bảy gam); 0,642g (không phẩy sáu bốn hai gam) các hạt tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng viền xanh; 10,336g (một không phẩy ba ba sáu gam) các hạt tinh thể màu trắng đựng trong 08 tám) túi nilon màu trắng viền xanh; 5,449g (năm phẩy bốn bốn chín gam) các hạt tinh thể màu trắng đựng trong 08 tám) túi nilon màu trắng viền xanh, Tất cả được đựng trong một hộp giấy kí hiệu T2, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T8, Nguyễn Trần Đ, Nguyễn Văn Đ1 và các hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T. Trong 01(một) Hộp giấy ký hiệu T2 được dán kín niêm phong, xung quanh có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Minh T8, Nguyễn Trần Đ, Nguyễn Văn Đ1 và các hình dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh T. (Kèm KLGĐ số 195/KL-KTHS ngày 15/01/2024).
  • * Tịch thu, phát mại sung công, nộp ngân sách nhà nước gồm: 01(một) Xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đen xám, biển số 64H1-245.08 kèm theo 01(một) Chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số: 017450, tên chủ xe Hồ Văn N. 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen. 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno7, màu vàng. 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu trắng. Tất cả đều đã cũ, qua sử dụng là công cụ phương tiện dùng để mua bán trái phép chất ma túy.
  • * Trả lại cho Đào Văn T 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen không liên quan đến vụ án.
  • * Tịch Thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 2.200.000đ, chuyển đến số tài khoản 9325701797 mở tại ngân hàng V của Phạm Văn M để mua 05 viên kẹo của M đêm ngày 09/01/2024. Hiện Cơ quan điều tra đã phối hợp với ngân hàng P số tiền này.

[8] Án phí sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là phù hợp và có căn cứ pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

Điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đào Văn T.

Điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn M.

Tuyên bố: Các bị cáo Đào Văn TPhạm Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt các bị cáo:

  1. Đào Văn T 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ là ngày 10 tháng 01 năm 2024. Và bị phạt tiền là 10.000.000đ (mười triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.
  2. Phạm Văn M 8 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ là ngày 10 tháng 01 năm 2024.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo M.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

* Tịch thu và tiêu hủy toàn bộ các vật chứng cùng các bao bì, nilong cụ thể như sau:

  • Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu M1 và 04 (bốn) viên nên màu cam không rõ hình dạng có tổng khối lượng sau giám định là 1,746g (một phẩy bảy bốn sáu gam). Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K2 Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T8, Lưu Bình N1, Nguyễn Văn T9 và các hình dấu của Phòng kị thuật hình sự Công an tỉnh T. Trong 01(một) Phong bì được dán kín niêm phong, mặt trước ghi: “CATX Nghi So TC114 ngày 10/01/2024”. Mặt sau có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Minh T8, Nguyễn Văn T9, Lưu Bình N1 và các hình dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh T. (Kèm KLGĐ số 175/KL-KTHS ngày 15/01/2024).
  • Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của hộp giấy ký hiệu K; 01 (một) hộp nhựa hình trụ tròn màu trắng; 01 (một) hộp nhựa hình trụ tròn trong suốt nắp hộp màu trắng; 03 (ba) viên nén màu cam có tổng khối lượng là 1,416g (một phẩy bốn một sáu gam) và 1,911g (một phẩy chín một một gam) các hạt tinh thể màu trắng của hộp nhựa hình trụ tròn màu trắng; 09 (chín) viên nén màu cam có tổng khối lượng là 4,176g (bốn phẩy một bảy sáu gam), 0,705g (không phẩy bảy không năm gam) các cục chất bột màu xanh, 1,456g (một phẩy bốn năm sáu gam) chất bột màu xanh và 9,392g (chín phẩy ba chín hai gam) các hạt tinh thể màu trắng của hộp nhựa hình trụ tròn trong suốt nắp hộp màu trắng. Tất cả được đựng trong một hộp giấy kí hiệu T1, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T8, Nguyễn Trần Đ, Nguyễn Văn Đ1 và các hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T. Trong 01(một) Hộp giấy ký hiệu T1 và được dán kín niêm phong, xung quanh có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Minh T8, Nguyễn Trần Đ, Nguyễn Văn Đ1 và các hình dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh T. (Kèm KLGĐ số 195/KL-KTHS ngày 15/01/2024).
  • Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của hộp giấy ký hiệu K3; 25 (hai năm) viên nén màu cam có tổng khối lượng là 11,127g (một một phẩy một hai bảy gam); 0,642g (không phẩy sáu bốn hai gam) các hạt tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng viền xanh; 10,336g (một không phẩy ba ba sáu gam) các hạt tinh thể màu trắng đựng trong 08 tám) túi nilon màu trắng viền xanh; 5,449g (năm phẩy bốn bốn chín gam) các hạt tinh thể màu trắng đựng trong 08 tám) túi nilon màu trắng viền xanh, Tất cả được đựng trong một hộp giấy kí hiệu T2, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T8, Nguyễn Trần Đ, Nguyễn Văn Đ1 và các hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T. Trong 01(một) Hộp giấy ký hiệu T2 được dán kín niêm phong, xung quanh có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Minh T8, Nguyễn Trần Đ, Nguyễn Văn Đ1 và các hình dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh T. (Kèm KLGĐ số 195/KL-KTHS ngày 15/01/2024).
  • * Tịch thu, phát mại sung công, nộp ngân sách nhà nước gồm: 01(một) Xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đen xám, biển số 64H1-245.08 kèm theo 01(một) Chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số: 017450, tên chủ xe Hồ Văn N. 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen. 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno7, màu vàng. 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu trắng. Tất cả đều đã cũ, qua sử dụng.
  • * Trả lại cho Đào Văn T 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen không liên quan đến vụ án.
  • * Tịch Thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng), chuyển đến số tài khoản 9325701797 mở tại ngân hàng V của Phạm Văn M để mua 05 viên kẹo của M đêm ngày 09/01/2024. Hiện Cơ quan điều tra đã phối hợp với ngân hàng P số tiền này.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Đào Văn TPhạm Văn M mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 23 tháng 9 năm 2024).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, Luật sư;
  • - TAND, VKSND Cấp cao HN;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hoá;
  • - UBND x, Quảng Nham,
  • h Quảng Xương, Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Vũ Đại Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 180/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger