Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số:180/2024/HS-ST

Ngày:09-12-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Bền

Ông Phùng Văn Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:163/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:179/2024/HSST-QĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn G, sinh ngày 17/7/1996 tại Tiền Giang; Giới tính:Nam; Nơi cư trú: Ấp H, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Số căn cước công dân [...], cấp ngày 20/4/2023; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị Bé S; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Không;

Tiền sự: 04 lần.

  • + Lần 1: Ngày 18/4/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 18 (mười tám) tháng, theo Quyết định số 20/QĐ-TA. Chấp hành xong ngày 19/6/2018.
  • + Lần 2: Ngày 05/6/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 15 (mười lăm) tháng, theo Quyết định số 37/QĐ-TA. Chấp hành xong ngày 14/9/2020.
  • + Lần 3: Ngày 06/7/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 (hai mươi bốn) tháng, theo Quyết định số 52/QĐ-TA. Chấp hành xong ngày 14/4/2023.
  • + Lần 4: Ngày 24/6/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 (hai mươi bốn) tháng, theo Quyết định số 77/QĐ-TA.

Nhân thân:

Ngày 02/02/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 13/2016/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/10/2016.

Bị cáo đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tiền Giang.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Quốc P, sinh ngày 04/11/1985 tại Tiền Giang; Giới tính:Nam; Nơi cư trú: Ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Số căn cước công dân [...], cấp ngày 17/8/2023; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn G1 (chết) và bà Nguyễn Thị Hoa T; Vợ Nguyễn Thúy H, có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 20/9/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 (một) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 39/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/8/2005.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 16/7/2024, chuyển tạm giam ngày 19/7/2024.

Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người bị hại:

  • - Châu Thị N1, sinh năm 1969 (vắng mặt).
  • Trú tại: Ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • - Võ Thị T1, sinh năm 1979 (vắng mặt).
  • Trú tại: Ấp H, xã H (nay là xã B), huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Huỳnh Minh T2, sinh năm 1989 (vắng mặt).
  • Trú tại: Ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • Nguyễn Văn N, sinh năm 1975 (vắng mặt).
  • Trú tại: Ấp H, xã D (nay là xã B), huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • Nguyễn Thị Hoa T, sinh năm 1956 (có mặt).
  • Trú tại: Ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên ngày 13/7/2024 và 14/7/2024 Nguyễn Văn G và Lê Quốc P đã thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện C, tỉnh Tiền Giang. Cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 13 giờ ngày 13/7/2024, Nguyễn Văn G điều khiển xe mô tô hai bánh kiểu dáng Dream màu nâu (không rõ biển số) chở Lê Quốc P đi uống nước. Sau đó, cả hai bàn bạc rủ nhau đi tìm kiếm gà để trộm cắp, G điều khiển xe chở P qua địa bàn xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang, trên đường đi cả hai thấy phía trước nhà nuôi yến của anh Nguyễn Trường G2 có dựng 01 xe đạp điện màu xanh, đen hiệu ASAMA của bà Châu Thị N1, không người trông coi, không có chìa khóa nên P vào lén lút dẫn xe đạp điện ra ngoài gặp G. Lúc này, G điều khiển xe Dream đẩy xe đạp điện do P điều khiển đến tiệm sửa xe của Huỳnh Minh T2 bán xe cho T2 được số tiền 700.000đồng, số tiền này cả hai tiêu xài cá nhân. Chị N1 khi phát hiện mất xe thì đến Công an xã Đ trình báo sự việc.

Vật chứng thu giữ, xử lý:

  • - 01 xe đạp điện hiệu ASAMA màu xanh, đen. Đây là tài sản hợp pháp của bà Châu Thị N1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã trao trả cho bà N1.
  • - 01 đĩa DVD lưu trữ 01 đoạn video dài 18 giây ghi lại hình ảnh đối tượng có hành vi trộm cắp xe đạp điện ngày 13/7/2024. Kèm hồ sơ vụ án.
  • - 01 quần jean ống dài; 01 áo sơ mi màu đỏ đen tay ngắn; 01 đôi dép màu đen; 01 thẻ căn cước công dân mang tên Lê Quốc P, hiện đang tạm giữ, chờ xử lý.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 83/KL-HĐĐG ngày 19/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Tiền Giang, kết luận: 01 xe đạp điện màu xanh đen, nhãn hiệu ASAMA có rổ phía trước bằng nhựa màu đen, tài sản thu hồi được có giá trị là 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn) đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 15 giờ ngày 14/7/2024, G điều khiển xe mô tô hai bánh kiểu dáng Wave màu đỏ không gắn biển số đến gặp P và rủ P đi trộm gà thì P đồng ý. Sau đó, G điều khiển xe chở P di chuyển đến địa bàn xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, khi đến đường đal công cộng tọa lạc ấp H, xã H thì cả hai phát hiện 01 xe đạp điện hiệu HITASA màu tím đen (không có chìa khóa) của chị Võ Thị T1 đang dựng trên đường đal, không người trông coi nên P lén lút lấy trộm rồi điều khiển xe đạp điện để G điều khiển xe mô tô hai bánh đẩy về tiệm sửa xe của Huỳnh Minh T2, G đi về nhà còn P bán xe cho T2 được số tiền 1.000.000đồng, P, Gấm chia nhau mỗi người 500.000 đồng tiêu xài cá nhân. Đến ngày 26/7/2024, chị T1 đến Công an xã H trình báo sự việc.

Vật chứng thu giữ, xử lý:

  • - 01 xe đạp điện hiệu HITASA màu tím đen, có rổ bằng kim loại màu trắng. Đây là tài sản hợp pháp của chị Võ Thị T1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã trao trả cho chị T1.
  • - 01 đĩa DVD lưu trữ 03 đoạn camera an ninh do Công an xã H cung cấp, ghi lại quá trình di chuyển của các đối tượng lấy trộm xe đạp điện vào ngày 14/7/2024. Kèm theo hồ sơ vụ án.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 86/KL-HĐĐG ngày 29/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Tiền Giang, kết luận: 01 xe đạp điện nhãn hiệu HITASA, màu tím đen, có rổ phía trước bằng kim loại màu trắng, tài sản thu hồi được có giá trị là 3.000.000 (Ba triệu) đồng.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Châu Thị N1, Võ Thị T1 đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không yêu cầu bồi thường; Huỳnh Minh T2 yêu cầu G và P bồi thường số tiền 1.700.000đồng, gia đình hai bị can đã bồi thường xong.

* Tại bản cáo trạng số 162/CT-VKSCT ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn G, Lê Quốc P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn G, Lê Quốc P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát công bố.

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn G, Lê Quốc P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cùng nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G, Lê Quốc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, xử phạt bị cáo Lê Quốc P từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn G, Lê Quốc P nói lời sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn G, Lê Quốc P thống nhất khai nhận, vào ngày 13/7/2024 tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Nguyễn Văn G và Lê Quốc P đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe đạp điện của bà Châu Thị N1, giá trị tài sản chiếm đoạt theo kết luận định giá là 2.500.000đồng. Đến ngày 14/7/2024 tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, G và P tiếp tục có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe đạp điện của chị Võ Thị T1, giá trị tài sản chiếm đoạt theo kết luận định giá là 3.000.000đồng. Tổng giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 5.500.000đồng. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp cáo trạng truy tố cũng như kết luận luận tội của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố. Xét thấy hành vi của các bị cáo là xem thường pháp luật, các bị cáo biết rõ tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng đã cố ý lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người bị hại để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân; tài sản bị cáo chiếm đoạt theo kết luận định giá của Hội đồng định giá có giá trị là 5.500.000đồng; thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người đã đủ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự; các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo vệ. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn G, Lê Quốc P đã có đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Văn G, Lê Quốc P phạm tội trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về tài sản của người khác; làm ảnh hưởng an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo G là người đề xướng rủ bị cáo P trộm tài sản nên xét về vai trò bị cáo G là vai trò chính. Sau khi phạm tội các bị cáo đã khai báo thành khẩn thừa nhận hành vi, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, các bị cáo thực hiện 02 lần hành vi phạm tội thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; bị cáo G phạm tội khi có nhiều tiền sự đồng thời nhân thân xấu từng chấp hành án tù nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều này thể hiện bị cáo không biết hối cải, xem thường pháp luật nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Đối với bị cáo P có vai trò đồng phạm tích cực, trực tiếp thực hiện 02 lần hành vi trộm cắp tài sản, cùng đem tài sản đi bán và cùng sử dụng số tiền do phạm tội mà có đồng thời bị cáo có nhân thân xấu từng chấp hành án về tội trộm cắp tài sản lại tiếp tục phạm tội nên cũng cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.

[4] Về vật chứng:

Vụ thứ nhất:

  • - 01 xe đạp điện hiệu ASAMA màu xanh, đen là tài sản của bà Châu Thị N1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã xử lý vật chứng trao trả cho bà N1 là phù hợp.
  • - 01 đĩa DVD lưu trữ 01 đoạn video dài 18 giây ghi lại hình ảnh đối tượng có hành vi trộm cắp xe đạp điện ngày 13/7/2024, lưu kèm hồ sơ vụ án.
  • - Đối với 01 thẻ căn cước công dân mang tên Lê Quốc P là giấy tờ cá nhận của bị cáo, không liên quan hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với các vật dụng gồm 01 quần jean ống dài; 01 áo sơ mi màu đỏ đen tay ngắn; 01 đôi dép màu đen không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Vụ thứ hai:

  • - 01 xe đạp điện hiệu HITASA màu tím đen, có rổ bằng kim loại màu trắng là tài sản của chị Võ Thị T1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã xử lý vật chứng trao trả cho chị T1 là phù hợp.
  • - 01 đĩa DVD lưu trữ 03 đoạn camera an ninh do Công an xã H cung cấp, ghi lại quá trình di chuyển của các đối tượng lấy trộm xe đạp điện vào ngày 14/7/2024, lưu kèm theo hồ sơ vụ án.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Châu Thị N1, Võ Thị T1 đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Minh T2 yêu cầu G và P bồi thường số tiền 1.700.000 đồng, gia đình hai bị cáo đã bồi thường, các đương sự không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[8] Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

[9] Đối với Huỳnh Minh T2 có mua 02 xe đạp điện do G và P bán nhưng khi mua T2 không biết đây là tài sản do G và P phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang không đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự đối với T2 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G, Lê Quốc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Lê Quốc P 01 (một) 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 16/7/2024.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại bị cáo Lê Quốc P 01 thẻ căn cước công dân mang tên Lê Quốc P.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 quần jean ống dài; 01 áo sơ mi màu đỏ đen tay ngắn; 01 đôi dép màu đen.

Vật chứng, tài sản do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/11/2024.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TG;
  • - VKSND tỉnh TG;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Công an huyện Châu Thành;
  • - CC.THADS huyện Châu Thành;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Kim Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 180/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn G + đồng phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger