Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 180/2024/HS-ST

Ngày 17/10/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Xuân Xế, bà Đặng Thị Thập.

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2024 tại điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 179/2024/TLST-HS ngày 02/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2024/QĐXXST-HS ngày 04/10/2024 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Bàn Thị T, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bàn Văn V, sinh năm 1979 và con bà Triệu Thị V1, sinh năm 1980; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; chồng, con: Chưa có.

- Tiền sự: Ngày 07/10/2022, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội ra Quyết định số 05/2022/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T trong thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 20/3/2024.

- Tiền án: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

Người tham gia tố tụng khác:

  1. Cán bộ Tin học Tòa án nhân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Cán bộ Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

(Đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 20/6/2024, cán bộ Đội Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội của Công an huyện Y phối hợp với Công an xã L kiểm tra khu nhà cho thuê trọ của anh Nguyễn Văn H – thôn C, xã L. Khi lực lượng Công an thông báo quyết định kiểm tra nhưng chưa tiến hành kiểm tra kiểm tra phòng trọ của Bàn Thị T và chị Bàn Thị T1, cùng sinh năm 2003, trú tại: thôn Đ, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái, thì T tự nguyện lấy trong tủ quần của T 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 06 viên nén hình tròn màu hồng trong giao nộp cho lực lượng Công an.

Công an tiến hành thu giữ: 01 túi nilong màu trắng, bên trong chứa 06 viên nén hình tròn màu hồng.

Tại Kết luận giám định số 1524/KL-KTHS ngày 23 tháng 6 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy có chữ gửi giám định có khối lượng là 0,5846 gam là ma túy Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất".

Tại Bản Cáo trạng số 178/CT-VKS-YP ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo Bàn Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Bị cáo T khai nhận: Sáng ngày 19/6/2024, T mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ma tuý tổng hợp với giá 500.000 đồng để sử dụng. Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 21/6/2024, khi T đang ở phòng trọ thì lực lượng Công an đến kiểm tra hành chính nên T đã tự nguyện giao nộp số ma tuý trên. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong truy tố là đúng người, đúng tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bàn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

- Về hình phạt: Áp dụng khoản điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật hình sự xử phạt: Bàn Thị T từ 20 tháng tù đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/6/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Bàn Thị Tươi, sinh năm 2003; HKTT: Đ, M, Văn C, Yên Bái; 01 phong bì niêm phong que thử nước tiểu. Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo T.

Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 21/6/2024, tại thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Bàn Thị T có hành vi tàng trữ trái phép 0,5846 gam ma túy Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo T mua chất ma túy để sử dụng cho bản thân đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Ngoài ra ma túy là chất gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Bản thân bị cáo cũng hiểu biết về tác hại của ma túy cũng như những quy định của pháp luật nghiêm cấm đối với tất cả các hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vẫn vi phạm, vì vậy cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo đã tự thú, tự nguyện giao nộp số ma túy. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 07/10/2022, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội ra Quyết định số 05/2022/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 20/3/2024, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng.

Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung trong nhân dân như phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Bàn Thị Tươi, sinh năm 2003; HKTT: Đ, M, Văn C, Yên Bái; 01 phong bì niêm phong que thử nước tiểu là những vật liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[3] Những vấn đề khác:

Trong vụ án này, người đàn ông đã bán ma túy cho T nhưng T không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ để điều tra, xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với chị Bàn Thị T1 là người thuê trọ cùng T, chị T1 không biết T cất giấu ma túy trong phòng trọ và T cũng không nói cho chị T1 biết. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không xử lý đối với chị T1 là phù hợp.

Đối với chủ nhà trọ anh Nguyễn Văn H không biết T tàng trữ trái phép chất ma túy tại phòng trọ nên Cơ quan điều tra đã nhắc nhở, giáo dục anh H là phù hợp.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Công an tiến hành kiểm tra nhanh ma túy đối với bị cáo, kết quả xác định bị cáo dương tính với ma túy. Do bị cáo không nhớ địa điểm sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra chưa xử lý. Khi nào làm rõ thời gian, địa điểm sử dụng ma túy sẽ xử lý sau.

[4] Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bàn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bàn Thị T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/6/2024.

    - Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Bàn Thị T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Bàn Thị Tươi, sinh năm 2003; HKTT: Đ, M, Văn C, Yên Bái; 01 phong bì niêm phong que thử nước tiểu. Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo.

    Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Báo cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND huyện Yên Phong;
  • -Công an huyện Yên Phong;
  • -Trại tạm giam CA tỉnh;
  • -Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • -Những người TGTT;
  • -Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2024/HS-ST ngày 17/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 180/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bàn Thị Tươi - TTTPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger