Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 180/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29/5/2024

V/v Ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lê Thị Nhanh

2/ Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 119/2024/TLST-HNGĐ ngày 28/3/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2372/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích Đ, sinh năm 1968

Địa chỉ: W – 38300 B, CHLB Đức.

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn (để nhận giấy tờ liên quan đến vụ án, bản án, quyết định của Tòa án): Bà Ngô Thị L, sinh năm 1984, địa chỉ: M, phường T, quận N, Hà Nội (Theo giấy ủy quyền ngày 27/6/2023 được Đại sứ quán Việt Nam tại CHLB Đức chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự số 53 quyển số 01/SCT-CK,ĐC ngày 27/6/2023) và ông Hồ Hữu N, sinh năm 1982, địa chỉ: Tổ M, phường C, quận B, Hà Nội (Theo giấy ủy quyền ngày 27/6/2023 được Đại sứ quán Việt Nam tại CHLB Đức chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự số 55 quyển số 01/SCT-CK,ĐC ngày 27/6/2023).

- Bị đơn: Ông Hà Xuân T, sinh năm 1965

Địa chỉ: Số Y, đường X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Các đương sự vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản tự khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ được Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa Liên bang Đức chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự số chứng thực 60 quyển số 01/SCT-CK, ĐC ngày 27/6/2023 có nội dung như sau:

Bà và ông Hà Xuân T kết hôn vào ngày 22/12/1998 tại Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Ucraina, theo giấy chứng nhận kết hôn số 31/98.

Sau khi kết hôn thời gian đầu hai bên chung sống hạnh phúc bình thường, đến năm 2008 thì bắt đầu xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông T quay trở về Việt Nam sinh sống còn bà ở lại Ucraina và hiện nay bà đã sang Đức sinh sống, hai bên đã nhiều lần cùng nhau nói chuyện nhưng không hàn gắn được. Do cách xa nhau về địa lý nên hai bên không có nhiều thời gian quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng phai nhạt dần, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Trên thực tế hai bên đã sống ly thân từ 2008 đến nay không ai còn quan tâm đến cuộc sống của ai. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Hà Xuân T.

Về con chung: Bà và ông T có 02 con chung tên Hà Thanh M, sinh ngày 5/4/1993 và Hà Thanh Q, sinh ngày 02/4/2004 hiện đã trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có

Bị đơn ông Hà Xuân T trình bày tại bản tự khai ngày 23/4/2024:

Ông và bà Nguyễn Thị Bích Đ kết hôn vào ngày 22/12/1998 tại Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Ucraina, theo giấy chứng nhận kết hôn số 31/98.

Về quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng ông thống nhất như trình bày của bà Nguyễn Thị Bích Đ. Ông được biết bà Nguyễn Thị Bích Đ đang yêu cầu ly hôn với ông tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bích Đ ông có ý kiến như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Bích Đ.

Về con chung: Ông và bà Đ có 02 con chung tên Hà Thanh M, sinh ngày 5/4/1993 và Hà Thanh Q, sinh ngày 02/4/2004 hiện đã trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có

Tại phiên tòa sơ thẩm : Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ, bị đơn ông Hà Xuân T đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án :

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ đang cư trú tại Cộng hòa Liên bang Đức có đơn xin ly hôn với bị đơn ông Hà Xuân T đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 38; Điều 40; Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 123 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Về tố tụng:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ các bên tham gia phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ, bị đơn ông Hà Xuân T đều có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ bị đơn ông Hà Xuân T có đăng ký kết hôn vào năm 1998, theo giấy chứng nhận kết hôn số 31/98 ngày 22/12/1998 tại Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Ucraina nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Theo bà Nguyễn Thị Bích Đ và ông Hà Xuân T trình bày: Sau khi kết hôn hai bên chung sống hạnh phúc bình thường một thời gian, đến năm 2008 thì bắt đầu xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông T quay trở về Việt Nam sinh sống còn bà Đ ở lại Ucraina và hiện nay bà Đ đã sang Đức sinh sống, hai bên đã nhiều lần cùng nhau nói chuyện nhưng không hàn gắn được. Do cách xa nhau về địa lý nên hai bên không có nhiều thời gian quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng phai nhạt dần, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay cả hai đã sống ly thân, không chung sống cùng nhau và cũng không còn quan tâm đến nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, việc hàn gắn là không thể thực hiện được.

Nay bà Đ nhận thấy không còn tình cảm với ông Hà Xuân T, hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn để ổn định cuộc sống. Về phía ông Hà Xuân T có bản tự khai đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bích Đ.

Xét thấy, vợ chồng có quyền, nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, xây dựng gia đình hạnh phúc, đây cũng là mục đích của hôn nhân. Do điều kiện khách quan nên thực tế vợ chồng bà Nguyễn Thị Bích Đ, ông Hà Xuân T đã không còn chung sống dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng kéo dài, tình cảm phai nhạt, cả hai đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị Bích Đ xin ly hôn và ông Hà Xuân T đồng ý thuận tình ly hôn là có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà Đ và ông T xác định có 02 con chung tên Hà Thanh M, sinh ngày 5/4/1993 và Hà Thanh Q, sinh ngày 02/4/2004 cả hai đều đã trưởng thành nên không xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đ và ông T xác định không có nên không xét.

[4] Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn: 300.000 đồng nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Bích Đ và ông Hà Xuân T được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 38; Điều 40; Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 122; Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016.UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ luật Thi hành án dân sự 2008 đã sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Tuyên xử :

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích Đ và ông Hà Xuân T thuận tình ly hôn.
  2. Về con chung : Có 02 con chung tên Hà Thanh M, sinh ngày 5/4/1993 và Hà Thanh Q, sinh ngày 02/4/2004 hiện đã trưởng thành
  3. Về tài sản chung: Không có
  4. Về nợ chung: Không có.
  5. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà Nguyễn Thị Bích Đ phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền bà Nguyễn Thị Bích Đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0032687 ngày 26/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Bích Đ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Bà Nguyễn Thị Bích Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng, ông Hà Xuân T được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tối cao;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - Cục Thi hành án dân sự TP.HCM;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 180/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger