|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 180/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25/11/2024 V/v: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Phương Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa
Ông Nguyễn Quốc Nông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham dự phiên tòa:
Bà Mai Thị Xuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 197/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2024/QĐXX-ST ngày 18 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vi Thị P, sinh ngày 11/10/1994; CCCD số: [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 10/9/2019; Địa chỉ HKTT: phố P, thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ hiện tại: Đ, đường V, thị trấn Đ, huyện C, thành phố Đ, Đài Loan.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Vi Thị P về việc giao nộp văn bản tố tụng tại Tòa án là: Ông Lê Đình C, sinh năm: 1991; CCCD số: [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 12/11/2022;
Địa chỉ thường trú: phố P, thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn xin xét xử vắng mặt
2. Bị đơn: Anh Lê Phú H, ngày sinh: 27/10/1990; Địa chỉ: Phố P, thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa vắng mặt cả hai bên đương sự (Cả hai đều có đơn xin xét xử vắng mặt;).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Vi Thị P trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Lê Phú H được tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại UBND xã H (nay là thị trấn B), huyện H, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 30/10/2014. Sau ngày cưới vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cuộc sống khó khăn, anh H không lo làm ăn mà còn chơi bời, nghiện ngập dẫn đến vi phạm pháp luật, năm 2018 anh H đã đi chấp hành án tại trại giam H1, tỉnh Thanh Hóa (hiện đã chấp hành xong và đang làm việc tại địa phương). Đến năm 2019 do kinh tế khó khăn nên tôi đã sang Đài Loan đi xuất khẩu lao động và từ đó đến nay không có điều kiện để về lại Việt Nam.
Từ khi sang Đài Loan đến nay thì tình cảm vợ chồng càng nhạt phai, hôn nhân của chúng tôi chỉ còn lại trên giấy tờ. Nên nay tôi xác định không thể quay lại hàn gắn với anh H được nữa nên làm đơn xin được ly hôn với anh Lê Phú H.
Về con chung: Chúng tôi có 1 con chung là cháu Lê Khánh N, sinh ngày 09/7/2015. Từ nhỏ cho đến khi tôi đi nước ngoài thì cháu ở cùng bố và ông bà nội, nay tôi cũng chưa thể về Việt Nam được nên giao cho cho anh H nuôi và tôi cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000đ;
- Về tài sản và công nợ chung, riêng: Chúng tôi không có gì chung nên không yêu cầu giải quyết;
2. Tại bản khai ngày 15/11/2024 bị đơn là anh Lê Phú H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị P trình bày về quan hệ kết hôn, chung sống và mâu thuẫn như yêu cầu khởi kiện là đúng. Tôi và chị P tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã H (nay là thị trấn B), huyện H, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 30/10/2014. Năm 2019, chị P đi lao động tại Đài Loan. Từ khi chị P đi thì tình cảm vợ chồng trở nên phai nhạt, hai bên không còn quan tâm gì đến nhau, ai biết phận người đó. Nay chị P yêu cầu ly hôn, tôi đồng ý. Kính mong Qúy Tòa giải quyết cho chúng tôi ly hôn.
Về con chung: Trong thời kì hôn nhân, tôi và chị P có 01 con chung: Cháu Lê Thị Khánh N; sinh ngày 9/7/2015. Ngoài ra, không có con riêng hoặc con nuôi nào khác. Do chị P đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con. Hơn nữa, từ trước tới nay, con ở với tôi và ông bà nội đã ổn định. Vì vậy, đề nghị Tòa án giao cháu Lê Thị Khánh N cho tôi trực tiếp nuôi dưỡng. Về mức cấp dưỡng chị P đề nghị, tôi không có ý kiến gì vì đây là quyền và nghĩa vụ của chị P với con
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự thực hiện đầy đủ quyền lợi ích hợp pháp.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vi Thị P : Về Hôn nhân: xử cho chị Vi Thị P được ly hôn anh Lê Phú H; Về con chung: Giao cho anh H được trực tiếp nuôi cháu Lê Thị Khánh N; sinh ngày 9/7/2015, chị P cấp dưỡng cho cháu N mỗi tháng 2.000.000đ kể từ tháng 11 năm 2024 cho đến khi cháu N đủ tuổi thành niên; Về tài sản và công nợ chung riêng: Không yêu cầu nên miễn xét;
Về án phí: chị Vi Thị P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ;
(có bài phát biểu kèm theo)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Chị Vi Thị P hiện nay đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan(BL số 4,8,14,19)chị làm đơn xin ly hôn với chồng là anh Lê Phú H nên TAND Tỉnh Thanh Hóa thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa: Vắng mặt tất cả các bên đương sự ( chị Vi Thị P và anh Lê Phú H đều có đơn xin xét xử vắng mặt) nên HĐXX căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả các bên đương sự.
[2] Về nội dung:
Về hôn nhân: chị Vi Thị P và anh Lê Phú H có thời gian tìm hiểu, tự nguyện đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình đồng ý nên đã tổ chức cưới theo phong tục tập quán địa phương, đăng ký kết hôn được UBND cấp có thẩm quyền cấp năm 2014, như vậy đây là hôn nhân hợp pháp.
Vợ chồng không hạnh phúc kể từ ngay sau khi cưới, thêm vào đó anh H lại vi phạm pháp luật nên chị P có sự hẫng hụt và thất vọng với hôn nhân dẫn đến tình cảm vợ chồng càng cách xa nhau. Năm 2019 chị P đi Đài Loan làm ăn kinh tế cho đến nay chưa có điều kiện về Việt Nam và chị xét thấy tình cảm vợ chồng đã thật sự chấm dứt, hôn nhân giữa chị và anh H chỉ còn trên giấy tờ, nên chị làm đơn ly hôn và anh H cũng đồng ý. Do đó HĐXX có cơ sở nhận định, tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên giải quyết để anh chị được ly hôn nhau là đúng quy định.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Thị Khánh N; sinh ngày 9/7/2015. Từ bé cháu đã ở với bố mẹ và ông bà nội, khi mẹ đi Đài Loan, anh vi phạm pháp luật thì cháu ở với ông bà nội. Nay ly hôn chị có nguyện vọng để con cho anh nuôi, anh H cũng đồng ý vì cháu ở với anh và bà nội đang ổn định. Nên giao cháu Khánh N cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc;
Về cấp dưỡng: Chị P và anh H thống nhất; Chị P cấp dưỡng để cùng anh H nuôi cháu Khánh N mỗi tháng 2.000.000đ(hai triệu đồng), thời gian cấp dương tính từ tháng 11 năm 2024 cho đến khi cháu Khánh N đủ tuổi thành niên;
Về tài sản và công nợ: Các bên không yêu cầu giải quyết;
Về án phí: chị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
* Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Vi Thị P:
- - Về hôn nhân: Cho chị Vi Thị P được ly hôn anh Lê Phú H.
- - Về con chung: Công nhận vợ chồng có 01 con chung là Lê Thị Khánh N; sinh ngày 9/7/2015. Giao cháu Khánh N cho anh H được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, chị P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ(hai triệu đồng) thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 11 năm 2024 cho đến khi cháu Khánh N đủ tuổi thành niên hoặc có đủ sức khỏe để tự nuôi sống mình;
Chị P có quyền qua lại chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở, nhưng chị P không được lạm dụng quyền thăm nom con để làm ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con của anh H
- - Về tài sản, công nợ chung, riêng: Tòa án không xem xét.
- - Về án phí: chị Vi Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000đ án phí đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo định kỳ, được trừ vào số tiền tạm ứng chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000636 ngày 01/11/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị còn phải nộp tiếp 300.000đ.
- - Về quyền kháng cáo: chị Vi Thị P và anh Lê Phú H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Phương Thanh |
Bản án số 180/2024/HNGĐ-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 180/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
